Bài đăng mới nhất

... Theo kết luận thanh tra, năm 2021:

  • Prudential phát hành mới 94.431 hợp đồng bảo hiểm qua kênh bancassurance, tỷ lệ duy trì hợp đồng năm thứ nhất của những hợp đồng này (tính theo phí bảo hiểm) là 59%, tương ứng với tỷ lệ hủy, mất hiệu lực năm thứ nhất là 41%. 
  • Sun Life phát hành mới 80.117 hợp đồng bảo hiểm qua kênh bancassurance trong năm 2021, trong đó có 3.247 hợp đồng bảo hiểm bị hủy bỏ trong thời gian cân nhắc (năm thứ nhất), tương ứng với tỷ lệ 4,05%; 
  • Còn tỷ lệ hủy bỏ và chấm dứt hợp đồng bảo hiểm sau thời gian cân nhắc (năm thứ nhất) của các hợp đồng phát hành qua TPBank là 73%, ACB là 39%. 
  • Với BIDV Metlife, trong năm 2021, doanh nghiệp bảo hiểm này chỉ triển khai bán bảo hiểm thông qua ngân hàng mẹ BIDV và phát hành mới 21.123 hợp đồng bảo hiểm qua kênh bancassurance, tỷ lệ hủy sau năm thứ nhất là 39,4%. 
  • Tại MB Ageas, năm 2021, doanh nghiệp phát hành mới 66.757 hợp đồng bảo hiểm qua kênh bancassurance, trong đó 3.946 hợp đồng bị hủy bỏ trong thời gian cân nhắc, tương ứng tỷ lệ 5,91%; còn tỷ lệ hủy bỏ và chấm dứt hợp đồng bảo hiểm sau thời gian cân nhắc (năm thứ nhất) là 32,4%. 


Tỷ lệ hủy hợp đồng được công khai cho thấy một phần hoạt động bán hàng của các ngân hàng và công ty bảo hiểm. Tỷ lệ duy trì hợp đồng “mơ ước” của các công ty bảo hiểm là trên 80%. Vì thế, kết quả cuộc thanh tra không chỉ lộ ra tỷ lệ duy trì hợp đồng “không đẹp như mơ”. Tất nhiên, đây không phải là chuyện riêng của 4 công ty bảo hiểm, mà là cả thị trường. 

Công khai tỷ lệ duy trì hợp đồng bảo hiểm hàng năm là cần thiết, vừa giúp gia tăng tính minh bạch, vừa buộc các doanh nghiệp phải chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ đại lý/tư vấn viên.



Điều khoản loại trừ trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ giúp công ty bảo hiểm giải thoát khỏi nghĩa vụ bồi thường khi người được bảo hiểm tử vong trong một số trường hợp nhất định. Hãy cùng phân tích một số trường hợp loại trừ bảo hiểm gây tranh cãi gần đây trên Bài viết Điều khoản loại trừ trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: con dao hai lưỡi? của tác giả Hoàng Ngọc Phan đăng trên tạp chí Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 25/01/2024 trang 54-55.



Điều quan trọng đối với khách hàng trước khi đặt bút ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là đọc kỹ nội dung hợp đồng nói chung và điều khoản loại trừ nói riêng, xem hợp đồng của công ty bảo hiểm nào bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình thì hãy ký.



Với nhận định giá dầu bình quân cả năm 2024 sẽ được neo ở mức 80 USD/thùng giúp củng cố thêm các yếu tố tiềm năng tăng giá của nhóm cổ phiếu Dầu khí trong năm 2024. 

Giá dầu dự báo neo ở mức cao, chuỗi dự án lớn Lô B- Ô Môn, cùng nhiều dự án thăm dò khai thác khác đang được triển khai tích cực, cộng với đà tăng trưởng, thiết lập nền tảng vững chắc thời gian qua củng cố triển vọng “Khả quan” của nhóm cổ phiếu Dầu khí: BSR, GAS, PVD, và PVS.

BSR

Niêm yết cổ phiếu lên HoSE vẫn sẽ là động lực tăng giá tiềm năng

Crackspreads sản phẩm DO (chiếm khoảng 40% doanh thu của BSR) cải thiện, hỗ trợ cho biên lợi nhuận gộp của BSR. BSR đang tiếp tục tháo gỡ các vướng mắc, dự kiến niêm yết trên HSX trong năm 2024, hứa hẹn tăng thanh khoản cho cổ phiếu và tăng khả năng huy động vốn cho dự án nâng cấp, mở rộng NMLD Dung Quất. Giá dầu trung bình năm 2024 ước tính dao động ở mức cao sẽ tiếp tục giúp kết quả kinh doanh thực tế của BSR được duy trì ở mức ổn định cao hơn kế hoạch. Dự kiến cổ tức tiền mặt cho năm 2023 của BSR có tỷ lệ là 7%. BSR đã tích lũy được số dư tiền ròng dồi dào lên tới 27.400 tỷ đồng (1,12 tỷ USD), đảm bảo cho nhu cầu đầu tư lớn trong thời gian tới. 

Tuy nhiên, có một số rủi ro như, crackspreads các sản phẩm xăng có xu hướng giảm, tác động tiêu cực lên biên lợi nhuận gộp của BSR;

Việc tiến hành bảo dưỡng nhà máy lọc dầu Dung Quất lần thứ 5 (50 ngày) trong năm 2024 dự kiến sẽ khiến doanh thu của BSR giảm 10%. 

Theo Công ty CP chứng khoán VNDIRECT, dù lợi nhuận năm 2024 dự kiến giảm do đợt bảo dưỡng, mức định giá hiện nay của BSR vẫn khá hấp dẫn nhờ khả năng sinh lời và hiệu suất vận hành của BSR cao hơn so với các công ty cùng ngành trong khu vực.

GAS

Triển vọng từ lĩnh vực LNG và Dự án Đường ống dẫn khí Lô B – Ô Môn

Giá LNG trên thị trường thế giới có xu hướng ổn định trong năm 2024 là điều kiện thuận lợi để kho LNG 1 triệu tấn Thị Vải bước vào giai đoạn vận hành, chạy thử, tạo tiền đề cung cấp khí ổn định cho đối tác Nhơn Trạch 3 và 4 trong năm 2024. 

Bên cạnh đó, Dự án đường ống dẫn khí Lô B – Ô Môn khi có quyết định đầu tư cuối cùng (FID) với sản lượng khai thác dự kiến khoảng 5,06 tỷ m3 khí/năm, hứa hẹn sẽ mang lại nguồn doanh thu lớn, ước tính hơn 7 tỷ USD trong suốt quá trình vận hành. GAS đã tăng vốn điều lệ tương đương 23.000 tỷ đồng; dự kiến trả cổ tức tiền mặt cho năm 2023 với tỷ lệ 20% vốn điều lệ.


PVD

Lịch trình khoan bận rộn trong hai năm tới

Giá thuê giàn trung bình trong năm 2024 dự kiến vẫn tăng nhờ vào giá dầu Brent được neo ở mức cao và nhu cầu thuê giàn khoan tăng mạnh, trong khi đó nguồn cung giàn vẫn khan hiếm do lượng đóng mới thấp, là tín hiệu tốt cho các nhà thầu khoan như PVD. Các giàn khoan của PVD đã có việc làm trong năm 2024. Giàn I, II, VI có hợp đồng kéo dài sang năm 2025. Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng, thị trường trong nước sẽ cung cấp lượng việc làm tiềm năng rất lớn cho PVD từ cuối 2025 trở đi với nhiều dự án E&P đang được triển khai.

Theo VNDIRECT, cổ phiếu PVD định giá hấp dẫn nhờ triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ của doanh nghiệp. PVD đang giao dịch ở mức P/B là 1,1x, bằng với mức trung bình lịch sử kể từ năm 2010 và thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp cùng ngành. Tỷ lệ P/E trượt ở mức cao là 36,7x cũng được hỗ trợ bởi kỳ vọng tăng trưởng kép 2 năm đạt 52,8%. VNDIRECT duy trì khuyến nghị “Khả quan” cho PVD với giá mục tiêu 34.500 đồng nhờ triển vọng tăng trưởng vững chắc của doanh nghiệp và giá trị đội giàn khoan hiện tại tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái. PVD hiện đang giao dịch ở mức giá 27.250 đồng/cổ phiếu (ngày 22/1/2024).


PVS

Dự án Lô B – Ô Môn sẽ là động lực tăng trưởng trong ngắn hạn và trung hạn

Chuỗi dự án khí điện Lô B – Ô Môn, nếu FID được phê duyệt sẽ giúp PVS có thể ghi nhận doanh thu từ các hợp đồng với giá trị ước đạt 1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2024. PVS có thể sẽ được hưởng lợi từ dự án mỏ Lạc Đà Vàng Lô 15-1/05 với gói đấu thầu xây dựng 1 giàn xử lý trung tâm và 1 giàn đầu giếng với tổng giá trị hợp đồng là 283 triệu USD. Nhìn chung, chuỗi dự án Lô B với lượng công việc khổng lồ sẽ là động lực tăng trưởng chính của PVS trong hai năm tới. 

Bên cạnh đó, lĩnh vực điện gió ngoài khơi ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ, mang lại lượng công việc ước tính 800 triệu USD cho mảng cơ khí (M&C). Theo xu hướng chuyển đổi sang năng lượng xanh trên toàn cầu, điện gió ngoài khơi là một lĩnh vực đầy hứa hẹn, mang lại tiềm năng rất lớn cho mảng M&C trong dài hạn. 

Bên cạnh đó, giá dầu Brent trung bình ở mức cao sẽ giúp các dự án dầu khí trở nên khả thi và tạo môi trường thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ dầu khí như PVS.

VNDIRECT duy trì khuyến nghị “Khả quan” cho PVS với giá mục tiêu 47.400 đồng, triển vọng tích cực của công ty nhờ vào khối lượng công việc khổng lồ trong mảng M&C và giá dầu dự kiến vẫn sẽ ở mức cao trên 80 USD/thùng trong hai năm tới. PVS hiện đang giao dịch ở mức giá 36.700 đồng/cổ phiếu (ngày 22/1/2024).

Nguồn: PetroTimes

Quỹ đất sẵn sàng cho thuê dồi dào, “của để dành” lớn và sức mạnh tài chính tốt là điểm cộng giúp các doanh nghiệp bất động sản khu công nghiệp đảm bảo tăng trưởng dài hạn khi kinh tế phục hồi.

Khi đánh giá tiềm năng, cũng như sức mạnh tài chính để dự phóng bức tranh tài chính của một doanh nghiệp bất động sản khu công nghiệp, nhà đầu tư thường quan tâm tới hai chỉ báo. 

  • Đầu tiên, đối với doanh nghiệp cho thuê đất ghi nhận 50 năm, doanh thu dài hạn chưa ghi nhận là số tiền mà các đơn vị thuê đất trả tiền một lần, chờ ghi nhận - đây là “của để dành” đảm bảo tăng trưởng dài hạn. 
  • Thứ hai là quỹ đất sẵn sàng cho thuê, từ đó dự phóng doanh thu có thể ghi nhận trong những năm sắp tới. 

Đối với doanh thu dài hạn chưa ghi nhận, tính tới ngày 30/9/2023, Công ty cổ phần Khu công nghiệp Nam Tân Uyên (mã NTC) đang sở hữu 2.936,7 tỷ đồng, chiếm 66,3% tổng nguồn vốn; Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn VRG (mã SIP) sở hữu tới 11.232,7 tỷ đồng, chiếm 55,2% tổng nguồn vốn; Tổng công ty IDICO - Công ty cổ phần (mã IDC) sở hữu 5.159,8 tỷ đồng, chiếm 30,5% tổng nguồn vốn; Tổng công ty Viglacera - Công ty cổ phần (mã VGC) sở hữu 2.652,7 tỷ đồng, chiếm 11,2% tổng nguồn vốn… 

Một số doanh nghiệp ghi nhận doanh thu một lần như Công ty cổ phần Long Hậu (mã LHG), Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc - Công ty cổ phần (mã KBC), Công ty cổ phần Sonadezi Châu Đức (mã SZC)… 


Việc sở hữu doanh thu dài hạn chưa ghi nhận do cách ghi nhận 50 năm, phân bổ đều, đây thực tế là số tiền Công ty đã nhận, chỉ chờ hạch toán sang vốn chủ sở hữu khi đủ điều kiện ghi nhận doanh thu và lợi nhuận. Chính vì vậy, giá trị doanh thu dài hạn chiếm từ hơn 30% đến hơn 70% tổng nguồn vốn sẽ đảm bảo doanh thu ổn định trong một thời gian dài đối với công ty, chưa kể quỹ đất mới tiếp tục phát triển và sẵn sàng cho thuê. 

Quỹ đất sẵn sàng cho thuê Bên cạnh yếu tố “của để dành lớn”, nhà đầu tư quan tâm quỹ đất sẵn sàng cho thuê, đây sẽ là động lực tăng trưởng của nhóm bất động sản khu công nghiệp. Tại IDICO (mã chứng khoán: IDC), trong 9 tháng đầu năm 2023, Công ty ghi nhận ký thoả thuận giữa hai bên khoảng 122 ha đất có thể cho thuê (kế hoạch năm cho thuê 100 ha). Trong đó, các khách hàng lớn ký thoả thuận có thể thuê gồm PepsiCo thuê 20 ha tại Khu công nghiệp Hựu Thạnh với giá 130 USD/m2/ chu kỳ thuê; Hyosung thuê 25 ha tại Khu công nghiệp Phú Mỹ II với giá 125 USD/ m2/chu kỳ thuê… 

Theo ước tính của Công ty cổ phần Chứng khoán SSI, IDICO còn diện tích thương phẩm khá lớn ở các khu công nghiệp. Trong đó, Khu công nghiệp Phú Mỹ II còn lại 119 ha (tỷ lệ lấp đầy 73%); Khu công nghiệp Phú Mỹ II mở rộng còn 117 ha (tỷ lệ lấp đầy 7%); Khu công nghiệp Hựu Thạnh còn 294 ha (tỷ lệ lấp đầy là 26%); Khu công nghiệp Quế Võ II còn 71 ha (tỷ lệ lấp đầy là 60%); Khu công nghiệp Cầu Nghìn còn lại 76 ha (tỷ lệ lấp đầy là 26%). 

Theo kế hoạch, trong năm 2023, IDICO sẽ cho thuê 100 ha, năm 2024 sẽ cho thuê 144 ha…, với kế hoạch cho thuê, biên bản ghi nhớ giữa đối tác và quỹ đất sẵn có. Đây là cơ sở để tin rằng, tình hình tài chính của IDICO tiếp tục tăng trưởng nhờ quỹ đất cho thuê mới, cũng như chuyển cách hạch toán 50 năm sang 1 lần tại các khu công nghiệp hiện hữu. 

Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn VRG chia sẻ, Công ty còn lại quỹ đất tương đối lớn có thể phát triển. Trong đó, Khu công nghiệp Phước Đông còn lại đất thương phẩm khoảng 799,6 ha, giá cho thuê khoảng 80 - 100 USD/m2/chu kỳ thuê; Khu công nghiệp Lộc An - Bình Sơn còn khoảng 131,25 ha, giá cho thuê 210 - 230 USD/m2/chu kỳ thuê; Khu công nghiệp Đông Nam còn khoảng 24,78 ha, giá cho thuê khoảng 260 USD/m2/chu kỳ thuê; Khu công nghiệp Lê Minh Xuân 3 còn lại khoảng 105,44 ha, giá cho thuê khoảng 290 USD/m2/chu kỳ thuê. 

Tính đến cuối quý III/2023, lãnh đạo Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn VRG (mã chứng khoán: SIP) cho biết, quỹ đất còn lại hơn 1.200 ha đất khu công nghiệp và khoảng 170 ha đất khu đô thị đã giải phóng mặt bằng tại Dự án Khu đô thị Phước Đông giai đoạn A. Trong đó, 700 ha đã được giao đất (500 ha đất là thương phẩm) và 600 ha đất đã có chủ trương đầu tư. “Việc sở hữu quỹ đất lớn giúp Công ty duy trì triển vọng cho thuê đất và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn, bởi kỳ vọng nhu cầu tăng do nguồn cung đất hiện tại hạn chế ở các tỉnh phía Nam, cũng như giá đất tăng”, Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap đánh giá về triển vọng của Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn VRG. Với quỹ đất còn lại khoảng 1.200 ha, Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn VRG chia sẻ, sẽ đảm bảo khả năng phát triển bền vững trong vòng 3 - 5 năm tới. 

Tại Công ty cổ phần Sonadezi Châu Đức (mã chứng khoán: SZC), có hơn 300 ha đất sẵn sàng cho thuê tại Bà Rịa - Vũng Tàu và được hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng được cải thiện thông qua đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, Cảng Cái Mép và Gemalink. Trong đó, Công ty cổ phần Chứng khoán SSI ước tính, nửa cuối năm 2023, lợi nhuận của Công ty Sonadezi Châu Đức có thể tăng trưởng 110% so với cùng kỳ do tiếp tục ghi nhận diện tích cho thuê còn lại của Tổng công ty cổ phần Phát triển Khu công nghiệp (Sonadezi) và Dự án Khu đô thị Sonadezi Hữu Phước.

Trích bài viết: Kiểm kê của để dành của tác giả Hạc Hiên đăng trên Toàn cảnh thị trường bất động sản năm 2023, trang 242 - 243.

Hàng tồn kho là một trong những áp lực lớn nhất đối với các doanh nghiệp bất động sản trong năm 2023. Hàng tồn kho có tính hai mặt, việc tăng lượng hàng tồn kho nếu nằm trong kế hoạch sẽ là lợi thế của doanh nghiệp khi thị trường quay lại quỹ đạo phát triển ổn định. Song, đặt trong bối cảnh rất nhiều điểm nghẽn pháp lý còn trói chân các chủ đầu tư, lượng hàng tồn kho chưa phải là thành phẩm thực sự đáng lo ngại.

Lượng hàng tồn kho lớn có thể là “của để dành” quan trọng của doanh nghiệp khi thị trường phục hồi, nhưng nếu đó là hàng dở dang do vướng pháp lý thì lại là… cục nghẹn khó nuốt. 


Số liệu thống kê từ báo cáo tài chính quý III/2023 của 10 doanh nghiệp bất động sản có vốn hóa lớn trên sàn chứng khoán cho thấy, tổng giá trị hàng tồn kho ròng tại thời điểm cuối quý III/2023 đạt 270.099 tỷ đồng (khoảng 11,1 tỷ USD), tăng lần lượt 4% và 35% so với cùng kỳ năm 2022 và 2021.

Trong đó, Novaland là doanh nghiệp dẫn đầu với khoảng 137.594 tỷ đồng, riêng giá trị quỹ đất và dự án đang xây dựng chiếm gần 92,2%; phần còn lại là bất động sản đã xây dựng hoàn thành và hàng hóa bất động sản, bất động sản đã hoàn thiện chờ bàn giao cho khách hàng. 

Vinhomes đứng thứ hai với khoảng 54.628 tỷ đồng, giảm chưa tới 500 tỷ đồng so với quý II/2023, nhưng so với hồi đầu năm 2023, hàng tồn của Vinhomes đã giảm hơn 10.000 tỷ đồng.

Tương tự, hàng tồn kho của Becamex IDC tính đến cuối quý III/2023 đạt 22.166 tỷ đồng, tăng hơn 6% so với đầu năm, phần lớn do tăng chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang tại các dự án của doanh nghiệp. Đáng chú ý, doanh nghiệp còn gần 2.142 tỷ đồng chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tại các dự án như Hòa Lợi, TĐC Plaza, TĐC Hòa Lợi, Unitown - giai đoạn 2, Lake View… 

Đứng sau ba ông lớn này với mức tồn kho trên 10.000 tỷ đồng là nhóm các nhà phát triển gồm Khang Điền, Nam Long, Đất Xanh và Phát Đạt. 

  • Khang Điền ghi nhận hàng tồn kho tăng mạnh, đạt 17.152 tỷ đồng (tăng 38%). Phần lớn hàng tồn kho của Khang Điền đến từ các dự án dở dang, như: Khang Phúc - khu dân cư Tân Tạo (5.932 tỷ đồng, tăng 11%), Đoàn Nguyên - Bình Trưng Đông (3.368 tỷ đồng, tăng 3%)… 
  • Nam Long cũng ghi nhận hàng tồn kho tính đến cuối quý III/2023 đạt 16.800 tỷ đồng, tăng hơn 2.000 tỷ đồng so với đầu năm nay. Trong đó, tồn kho ở dự án Izumi 9.037 tỷ đồng, tăng hơn 700 tỷ đồng so với đầu năm; tồn kho ở dự án Waterpoint giai đoạn 1 là 3.556 tỷ đồng - giai đoạn 2 là 1.527 tỷ đồng; dự án Hoàng Nam (Akari) hơn 1.047 tỷ đồng… 
  • Trong khi đó, hàng tồn kho của Đất XanhPhát Đạt lại ghi nhận giảm nhẹ, lần lượt 14.800 tỷ đồng và 12.150 tỷ đồng. Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục hàng tồn kho của Đất Xanh vẫn là bất động sản dở dang, với giá trị 10.745 tỷ đồng, giảm 8,3% so với đầu năm. Bất động sản thành phẩm tăng gần gấp đôi, đạt giá trị gần 3.141 tỷ đồng.

Trích bài viết: Hai mặt của hàng tồn kho của tác giả Trọng Tín đăng trên Toàn cảnh thị trường bất động sản năm 2023, trang 240 - 241.



Author Name

Contact Form

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.