Chuyên mục "News"

Showing posts with label News. Show all posts

Tổng Giám đốc PTSC Lê Mạnh Cường cũng cho biết, với những thành công đã đạt được trong năm 2023, hiện tại PTSC đã có back-log (đơn hàng tồn đọng) bảo đảm công ăn việc làm đến năm 2027 và hiện đang tiếp tục đầu thầu, tìm kiếm việc làm cho giai đoạn 2027 - 2029. 
Phân tích cổ phiếu PVS 2024
Phân tích cổ phiếu PVS 2024

Bên dưới là một số phân tích của CTCK về cổ phiếu ngành dầu khí:

Triển vọng cổ phiếu PVS

Từ cuối năm 2024, mã cổ phiếu PVS của Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) đã vượt đỉnh lịch sử khi chạm mốc 41.200 đồng/cổ phiếu. Sau khi đi ngang tích lũy khoảng 3 tháng, ngày 5-4-2024 PVS tiếp tục vượt đỉnh lịch sử khi chạm mốc 44.800 đồng/cổ phiếu.

Theo báo cáo gửi đến nhà đầu tư, Công ty Chứng khoán Vietcap đã nâng giá mục tiêu từ 31.100 đông lên 47.800 đồng/cổ phiếu và nâng khuyến nghị từ Khả quan lên Mua cho PVS. Công ty này cũng nâng dự báo tổng lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số giai đoạn 2024 - 2028 của PVS thêm 12% (tương ứng +3%, +6%, +14%, +9%, +28% cho các năm từ 2024 đến 2028).

Triển vọng cổ phiếu PVD

Cổ phiếu PVD của Tổng công ty CP Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PV Drilling) cũng đã vượt đỉnh trung hạn khi chạm mốc 34.900 đồng vào ngày 2-4-2024 và đang trong quá trình công phá đỉnh lịch sử được tạo ra từ năm 2015.

Công ty MBS dự phóng lợi nhuận ròng năm 2024-2025 của PVD sẽ lần lượt đạt 967 tỉ đồng (tăng trưởng 66,9%) và 1.234 tỉ đồng (tăng trưởng 27,6%). Chuyên gia MBS sử dụng 2 phương pháp FCFF và P/B để đưa ra giá trị hợp lý của cổ phiếu PVD trong năm 2024 là 35.000 đồng/cổ phiếu, đồng thời khuyến nghị mua dành cho có phiếu này.

Tập đoàn Hòa Phát và Công ty Formosa đã đầu tư khoảng 20 tỷ USD để sản xuất HRC tại Việt Nam, sử dụng hơn 30.000 người lao động và đóng góp lớn cho ngân sách.   

... lo ngại nhập khẩu HRC giá rẻ để sản xuất tôn mạ, xuất khẩu sang các thị trường nhằm hưởng lợi từ các hiệp định thương mại giữa Việt Nam và các nước sẽ khiến các thị trường nhập khẩu tôn mạ tiến hành điều tra lẩn tránh về thuế. 

Các quốc gia/thị trường này, bao gồm: Mỹ, EU, Australia, Brazil, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Mexico, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc), Indonesia, Anh và Ấn Độ, đều có ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm HRC.

Thông tin HPG và Formosa đề xuất điều tra chống bán phá giá thép HRC


HSC dự kiến, các mảng đóng góp chủ yếu vào doanh thu năm 2024 là lãi từ cho vay 1.532 tỷ đồng (chiếm hơn 48%), phí môi giới 824 tỷ đồng (chiếm 26%), hoạt động tự doanh 556 tỷ đồng (chiếm 17,5%). Bên cạnh đó, doanh thu mảng tư vấn tài chính có khả năng tăng 11 lần, lên 248 tỷ đồng.

Với khách hàng tổ chức, HSC luôn nằm trong Top 3 về thị phần. Riêng thị phần môi giới cho nhà đầu tư nước ngoài, HSC duy trì vị trí đầu ngành, chiếm tỷ trọng 23% toàn thị trường. Đây là điểm nhấn quan trọng trong lợi thế cạnh tranh của HSC khi kì vọng nâng hạng thị trường đang đến gần.

Tại đại hội cổ đông sắp tới, Hội đồng quản trị HSC sẽ trình cổ đông phương án thay đổi hình thức chi trả cổ tức đợt 2 năm 2022 từ cổ phiếu sang tiền mặt, với tổng số tiền hơn 462,2 tỷ đồng, tương đương 54% lợi nhuận sau thuế. Năm 2023, HSC dự kiến trả cổ tức bằng tiền mặt, tổng cộng khoảng 368 tỷ đồng, tương đương 55% lợi nhuận sau thuế chưa phân phối. Tỷ lệ cổ tức năm 2024 cũng sẽ bằng tiền, tối đa 80% lợi nhuận sau thuế.

Phân tích cổ phiếu HCM của CTCK HSC

Nguồn: Báo Đầu tư Chứng khoán, số 15/2024 ra ngày 8.4.2024



Triển vọng kết quả kinh doanh của Hòa Phát từ năm 2024 trở đi được đánh giá khá tích cực nhờ:

  • Tăng sản lượng HRC thêm hơn 2 triệu tấn trong năm 2025 khi NM Dung Quốc 2 đi vào hoạt động, đáp ứng đủ nhu cầu HRC trong nước,
  • HPG và Formosa đề xuất áp thuế chống bán phá giá với HRC của Trung Quốc,
  • Nguồn cung toàn cầu giảm do sản lượng thép tại Trung Quốc giảm đáng kể trong thời gian gần đây,
  • Biên lợi nhuận được cải thiện nhờ giảm chi phí cố định trên mỗi tấn sản phẩm khi nhà máy Dung Quốc 2 đi vào hoạt động (công suất 5,6 triệu tấn),
  • Thị trường xuất khẩu mở rộng (Trung Đông, Châu Phi, Mỹ) bên cạnh thị trường Châu Âu và các nước Đông Nam Á,
  • Kì vọng lợi nhuận sẽ tăng trưởng trên 30%/năm trong giai đoạn 2025 - 2027.

Với những tiến triển tích cực nêu trên, HPG xứng đáng là cổ phiếu để nhà đầu tư tích lũy dần trong những nhịp điều chỉnh của thị trường.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 14/2024.




Với sự đốc thúc liên tục của các cơ quan quản lý, dự án Lô B - Ô Môn đã có những tín hiệu rõ ràng hơn về khả năng sớm được triển khai sau thời gian chậm tiến độ. Dự án này có quy mô đầu tư gần 12 tỷ USD, dự kiến đem lại nguồn công việc rất lớn cho các doanh nghiệp thượng nguồn trong 2 - 3 năm tới.

Hiện tại, nhu cầu về dầu khí đang mở rộng, nhất là trong lĩnh vực phát điện. Điện khí sẽ trở thành nguồn điện quan trọng đến năm 2030 theo Quy hoạch điện VIII, với tỷ trọng chiếm đến 21,8%. Các dự án điện khí đang được đẩy mạnh phát triển, nhưng nguồn cung khí trong nước chưa đủ đáp ứng, nên khí cho phát điện chủ yếu vẫn là khí nhập khẩu.

  • Trước đó, SSI Research ước tính, PTSC sẽ ghi nhận khối lượng công việc liên quan đến Lô B - Ô Môn đến năm 2025 (đường ống phải sẵn sàng hoạt động trước khi khai thác dòng khí đầu tiên vào năm 2026) và ghi nhận khoản lợi nhuận ròng hàng năm từ 70 - 100 tỷ đồng 
  • Ở phân khúc trung nguồn, cơ hội nhiều khả năng sẽ đến với PVCoating, nhờ lợi thế là đơn vị độc quyền trong nước phụ trách chính về mảng bọc ống dẫn dầu khí cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam PVCoating đang theo dõi tiến độ triển khai các dự án Lạc Đà Vàng, Sư Tử Trắng, Zawtikia-1E… để tham gia đấu thầu, đàm phán và ký kết hợp đồng bọc ống. Công ty cũng sẽ mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh, trong đó ưu tiên các lĩnh vực nằm trong chuỗi giá trị của PV Gas.
  • PVC-MS cho biết, mục tiêu hiện tại của Công ty là thực hiện liên danh, liên kết với các đơn vị mạnh trong nước để đấu thầu chế tạo, lắp ráp các giàn khoan dầu khí hạng nhẹ và trung bình cho ngành dầu khí như các dự án phát triển mỏ Phú Quốc, Đại Hùng pha 3, đảm nhiệm vai trò nhà thầu phụ cho Vietsovpetro, PTSC...
  • Ban lãnh đạo PVChem cũng nhận thấy doanh nghiệp có cơ hội lớn khi Tập đoàn Dầu khí Việt Nam triển khai các siêu dự án như Lô B - Ô Môn, Cá Voi Xanh. Theo kế hoạch sản xuất, PVChem đặt mục tiêu duy trì và phát triển tối thiểu 70% thị phần dung dịch khoan trong nước.

Một động lực khác của ngành dầu khí là Việt Nam đã có khung pháp lý hoàn thiện hơn, trong đó Luật Dầu khí năm 2022 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2023 và được quy định chi tiết tại Nghị định 45/2023/NĐ-CP, giúp thúc đẩy và phát triển hoạt động dầu khí. 

Triển vọng cổ phiếu dầu khí với dự án Lô B - Ô Môn
Triển vọng cổ phiếu dầu khí với dự án Lô B - Ô Môn

Nguồn: Báo Đầu tư chứng khoán (số 13, ra ngày 25/03/2024)

Thị trường chứng khoán nói chung, các công ty chứng khoán nói riêng có nhiều giai đoạn thăng trầm, trong từng giai đoạn đó có những doanh nghiệp dẫn đầu ngành, song theo thời gian, vị trí thống lĩnh dần đổi ngôi nhờ sự “tiến hóa” của thị trường. Ba giai đoạn phát triển nổi bật của các công ty chứng khoán có thể được tóm lược như sau:

Giai đoạn trước năm 2018

Trước khi các công ty chứng khoán Hàn Quốc gia nhập thị trường. Khi đó, thị trường chứng khoán bắt đầu bước qua giai đoạn đi ngang sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 - 2012, nhóm 4 công ty lớn nhất thị trường (Big 4) là SSI, HCM, VCI, VND, chiếm khoảng 75% thị phần.

Trong nhóm Big 4, SSI đẩy mạnh hoạt động IB nhằm tìm kiếm các cơ hội trên thị trường, HSC hướng đến nhóm khách hàng tổ chức, VND tập trung vào khách hàng cá nhân, VCI hướng đến cung cấp dịch vụ IB để tư vấn niêm yết, bảo lãnh cho khách hàng.

Giai đoạn 2018 - 2020

Khi các doanh nghiệp Hàn Quốc gia nhập thị trường. Nhận thấy sự hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam, nhiều công ty chứng khoán Hàn Quốc (Mirase Asset, KIS, KBSV…) bắt đầu gia nhập thị trường. Ban đầu, chiến lược của các công ty chứng khoán xứ Kim chi hướng đến việc hưởng chênh lệch lãi suất cho vay giữa thị trường Hàn Quốc và Việt Nam. Nhờ nguồn vốn dồi dào lãi suất thấp, các công ty chứng khoán Hàn Quốc tập trung “lôi kéo” môi giới từ các Big 4 bằng cách chia hoa hồng môi giới cao kết hợp với giảm phí giao dịch xuống mức 0,15%. Nhóm Big 4 dần mất thị phần vào nhóm công ty đến từ Hàn Quốc nên buộc phải hạ dần phí giao dịch để giữ chân khách hàng. 

Trong giai đoạn này, nhiều ngân hàng cũng thấy ưu điểm của thị trường chứng khoán và bắt đầu đẩy mạnh hoạt động cho vay thông qua công ty chứng khoán, từ đó các công ty chứng khoán nội địa nhỏ bắt đầu vươn mình và tăng được thị phần nhờ nguồn vốn từ ngân hàng, tiêu biểu như VPS, TCBS. 

Giai đoạn từ năm 2020 đến nay

Dịch Covid-19 xuất hiện và chính sách tiền tệ nới lỏng được thực hiện đồng loạt trên thế giới để kích cầu. Phong tỏa được tiến hành trên cả nước nhằm phòng chống dịch kết hợp với chính sách tiền tệ nới lỏng khiến nguồn tiền trên thị trường trở nên dồi dào. Trong khi đó, người dân có thể mở tài khoản chứng khoán một cách dễ dàng nhờ công nghệ eKYC được ứng dụng rộng rãi. Từ đây, lượng khách hàng mở mới gia tăng đột biến, kéo theo lượng tiền mới đổ mạnh vào thị trường chứng khoán, giúp thị trường có những phiên giao dịch trị giá hàng chục nghìn tỷ đồng, có thời điểm đạt 2 tỷ USD.

Miếng bánh thị phần

Miếng bánh thị phần môi giới “phình to” giúp tất cả các công ty trong ngành đều được hưởng lợi, trong đó VPS có tốc độ tăng trưởng thị phần ấn tượng và giành vị trí số 1 vào quý I/2021 (duy trì cho đến ngày nay), chấm dứt một thập kỷ dẫn đầu của nhóm Big 4 mà SSI là đại diện. 

Nhờ chính sách hoa hồng hấp dẫn (dành 50 - 60% hoa hồng cho cộng tác viên và môi giới), kết hợp lãi suất margin thấp và mức phí hợp đồng phái sinh thấp nhất thị trường, VPS dần lấy thị phần từ SSI, HCM, VND và ngày càng kéo giãn khoảng cách thị phần với doanh nghiệp có thị phần lớn thứ hai là SSI. 

Gần đây, SSI buộc phải thay đổi chiến lược khi đưa ra chính sách hoa hồng mới, trong đó chi đến 96% hoa hồng cho các broker. Trước SSI, nhiều công ty khác cũng đã có động thái tương tự như DNSE, VPBS, một số công ty còn miễn phí giao dịch như Pintree, TCBS. 

Nguồn: Báo Đầu tư Chứng khoán (số 13, ra ngày 25/03/2024).

 

Sự phục hồi của nền sản xuất, sự thiếu hụt của nhóm thuỷ điện hay sự kém cạnh tranh của các nhà máy điện khí, cùng các điều kiện thuận lợi từ các yếu tố đầu vào là những dấu hiệu dự báo triển vọng khả quan của nhóm nhiệt điện như HND, QTP, PGV, POW, PPC

Triển vọng cố phiếu nhiệt điện HND QTP PGV
Triển vọng cố phiếu nhiệt điện HND QTP PGV POW PPC

  • Hiện tượng El NiNo từ tháng 4 - 6/2024 (cao điểm nắng nóng), dòng chảy trên các sông và các hồ chứa lớn khu vực Bắc Bộ nhiều khả năng tiếp tục thiếu hụt so với trung bình nhiều năm qua.
  • Tổng sản lượng điện toàn hệ thống sẽ là 306,4 tỷ kWh. Trong đó, các nhà máy nhiệt điện than vẫn đóng vai trò chủ đạo, ước tính đóng góp 168,7 tỷ kWh, chiếm 55,1% tổng sản lượng toàn hệ thống, tăng hơn 28,8% so với năm 2023 để bù đắp cho sự thiếu hụt sản lượng từ các nhà máy thuỷ điện miền Bắc.
  • Giá than đá thế giới đang ở mức 129 USD/tấn, giảm 34% so với cùng kỳ năm 2023 và được dự báo sẽ duy trì ở mức thấp sau khi sản lượng và hàng tồn kho tại các nhà máy ở Trung Quốc tăng vọt. Điều này hỗ trợ cải thiện biên lợi nhuận gộp các doanh nghiệp.
  • Chi phí các nhà máy điện khí tăng (giá khí sẽ neo theo giá dầu FO và dầu Brent).
  • Năm 2024, Công ty cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng (mã chứng khoán HND) và Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh (mã chứng khoán QTP) đều được Bộ Công thương dự kiến giao sản lượng điện sản xuất ở mức cao, lần lượt là 7,75 tỷ kWh và 7,72 tỷ kWh, cao hơn sản lượng bình quân thiết kế của 2 nhà máy này là 7,2 tỷ kWh/năm. Với Tổng công ty Phát điện 3 - CTCP (mã chứng khoán PGV), Bộ Công thương giao chỉ tiêu sản lượng phát điện năm nay là 26,121 tỷ kWh. Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (mã chứng khoán POW), doanh nghiệp này đặt mục tiêu sản lượng điện năm 2024 đạt 16,703 tỷ kWh, tăng hơn 2,26 tỷ kWh so với ước thực hiện năm 2023 (14,443 tỷ kWh).
  • Giá cổ phiếu điện than hiện chỉ tăng khoảng 3% so với đầu năm như PPC, HND, riêng QTP tăng hơn 6%. Với cổ phiếu điện khí, NT2 có mức tăng khoảng 3%, POW tăng chưa tới 1%, PGV giảm hơn 6%. Trong khi đó, kể từ đầu năm đến nay, chỉ số VN-Index tăng hơn 11%, nhiều nhóm ngành khác tăng giá mạnh như ngân hàng, chứng khoán, bất động sản, dầu khí…
  • Nhóm điện than miền Bắc như QTP, HND được đánh giá tích cực do các doanh nghiệp dần bước vào giai đoạn chi trả cổ tức cao (hết nợ vay, khấu hao, sản lượng ổn định và không có nhu cầu đầu tư lớn), mang lại tỷ suất cổ tức tốt hơn nhiều so với lãi suất tiết kiệm.
  • VDSC dự đoán, mức chi trả cổ tức tiền mặt của các doanh nghiệp nhiệt điện trong năm 2024 (chi trả cho năm tài chính 2023) như sau: NT2 tỷ lệ 15%, HND tỷ lệ 8%, QTP tỷ lệ 15%, PPC tỷ lệ 8%.

Nguồn: Báo Đầu tư Chứng khoán số 13 ra ngày 25/03/2024 trang 18-19

Kỳ vọng tích cực cho cổ phiếu dầu khí khi quyết định FID đang đến gần.

Trong tuần qua, nhóm cổ phiếu dầu khí thu hút dòng tiền, nhất là các mã PVD, PVS, PVT, nhờ thông tin Bộ Công thương gửi công văn đến các doanh nghiệp dầu khí thúc đẩy tiến độ triển khai chuỗi dự án khí - điện Lô B, mở ra kỳ vọng về giai đoạn tăng trưởng mới của ngành dầu khí. 

Trong đó, Bộ Công thương yêu cầu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam phối hợp với các bên nước ngoài và chủ đầu tư các nhà máy điện Ô Môn, thống nhất và ký kết các thảo thuận thương mại (GSPA, GSA, PPA) để có quyết định đầu tư cuối cùng (FID) trong tháng 3/2024, từ đó đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án thượng nguồn, bỏ mục tiêu đón dòng khí đầu tiên vào cuối năm 2026.

Kỳ vọng tích cực cho cổ phiếu dầu khí PVS, PVD khi FID đang đến gần.

Bộ Công thương cũng yêu cầu chủ đầu tư dự án ống dẫn khí (trung nguồn) thúc đẩy các công việc dự án, bảo đảm đồng bộ với tiến độ dự án thượng nguồn. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Phát điện 2 - CTCP và Công ty TNHH Điện Ô Môn II sớm hoàn thành các thủ tục chuẩn bị đầu tư các nhà máy điện tại Trung tâm Điện lực Ô Môn để triển khai đầu tư xây dựng, đảm bảo đồng bộ với tiến độ của các dự án thượng nguồn và trung nguồn.



Với bờ biển dài hơn 3.260km bao quanh đất nước hình chữ S, Việt Nam có tiềm năng rất dồi dào để phát triển điện gió ngoài khơi, tuy nhiên, việc các dự án điện gió ngoài khơi trở thành hiện thực và phát được điện sẽ không thể nhanh. 



Theo Bộ Công Thương, có bốn vướng mắc của dự án điện gió ngoài khơi cần được làm rõ:

  • Chưa rõ cấp có thẩm quyền giao khu vực biển, cho phép hay chấp thuận cho các tổ chức sử dụng khu vực biển để thực hiện các hoạt động đo đạc, quan trắc, điều tra, thăm dò, khảo sát nhằm phục vụ lập dự án điện gió ngoài khơi.
  • Quy hoạch không gian biển quốc gia chưa được phê duyệt, nên chưa có cơ sở triển khai thực hiện quy hoạch điện lực.
  • Vướng mắc về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư.
  • Các điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi.




Cùng tham khảo một số ảnh hưởng từ hiện tượng El Nino và La Nina ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng nông nghiệp của một số nền nông nghiệp quan trọng trong năm 2024 như thế nào.

  • Theo dự báo của CDC, hiện tượng El Nino kéo theo thời tiết nóng, khô ở Châu Á và lượng mưa bất thường ở nhiều vùng của Châu Mỹ sẽ kết thúc trong nửa đầu năm 2024. Sau đó, có đến 55% khả năng La Nina sẽ xuất hiện vào tháng 6 đến tháng 8.
  • Thông thường khi La Nina xuất hiện, các nước Đông Nam Á, Australia và Ấn Độ sẽ chứng kiến nhiều mưa tuyết hơn, trong khi thời tiết tại các vùng trồng ngũ cốc và hạt dầu ở Châu Mỹ sẽ khô hơn. La Nina cũng thúc đầy mùa bão mạnh với sức tàn phá lớn ở Đại Tây Dương, đồng thời làm tăng điều kiện khô hạn ở Nam California và vùng trung tây nước Mỹ. La Nina có thể ảnh hưởng đến sản lượng lúa mì và ngô ở Mỹ, đậu nành và ngô ở khu vực Mỹ Latinh, trong đó có Brazil. Sản lượng gạo của Ấn Độ - nhà xuất khảo gạo lớn nhất thế giới cũng bị giảm vì tác động của hiện tượng gió mùa. Trong khi đó, các nước trồng cọ và lúa ở Đông Nam Á cũng đón nhận lượng mưa thấp hơn thông thường. Nếu La Nina xuất hiện kèm theo gió mùa (kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9) sẽ có lợi cho nông nghiệp vì gió mùa sẽ mang theo lượng mưa đáng kể trong thời gian xảy ra La Nina (khoảng 70% lượng mưa tại Ấn Độ).



Bên cạnh những yếu tố địa chính trị và sự phát triển kinh tế thế giới thì bên dưới là một số yếu tố cần được quan tâm chính về thị trường dầu mỏ năm 2024:

  • Bất ổn địa chính trị: Nga - Ukraine, xung đột Biển Đỏ
  • Nhu cầu tăng trưởng dự báo: 1.1 triệu thùng/ngày (IEA) đến 2.25 triệu thùng/ngày (OPEC)
  • Nguồn cung dự kiến tăng 1.2 - 1.9 triệu thùng/ngày, chủ yếu đến từ các nước ngoài OPEC
  • Sự tuân thủ cắt giảm sản lượng 2.2 triệu thùng/ngày của nhóm OPEC+. Nếu sự cắt giảm này được tuân thủ thì có thể dẫn đến mức thâm hụt 500 nghìn thùng/ngay (theo ANZ).
  • Mỹ gia hạn lệnh trừng phạt đối với Venezuela thêm 6 tháng nữa kể từ tháng 4/2024. Việc dở bỏ lệnh trừng phạt sớm có thể gia tăng nguồn cung từ Venezuela lên mức 880 nghìn thùng/ngày (2024) và 963 nghìn thùng ngày (2025).
  • Thêm nhiều nhà máy lọc dầu mới ở Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico, Trung Đông và Nigeria sẽ làm tăng nguồn cung dầu nhẹ, làm giảm sự chênh lệch giá giữa các loại dầu thô khác nhau trên toàn cầu.



Báo cáo tài chính quý I, niên độ tài chính 2023-2024 (từ ngày 1/10 đến 31/12/2023), Tập đoàn Hoa Sen lại cho thấy nhiều dấu hiệu khởi sắc, đồng thời phát đi tín hiệu mở rộng kinh doanh trở lại. Trong đó, riêng về kết quả kinh doanh, ngay trong quý I, doanh thu tăng 14,6%, biên lợi nhuận gộp cải thiện từ 2%, lên 10,5%. Bên cạnh lợi nhuận khởi sắc, tồn kho trong quý I cũng tăng thêm 396,8 tỷ đồng, lên 8.025,3  tỷ đồng, chiếm 42,7% tổng tài sản. Việc Công ty bắt đầu tăng tích trữ tồn kho, đồng thời mở rộng khoản phải thu dẫn tới thâm hụt dòng tiền và dòng tiền kinh doanh cũng đã âm 672,9 tỷ đồng trong quý I.



Lý giải việc kết quả kinh doanh chưa cải thiện, nhưng giá cổ phiếu tăng cao, lên mức định giá kỷ lục so với lịch sử, trên cương vị quỹ đầu tư, ông Lâm Văn Vân, đại diện Quỹ đầu tư ECI Capital cho biết, giá thép có thể phục hồi do thị trường kỳ vọng nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh, nhờ chính sách hỗ trợ của Chính phủ, cùng kỳ vọng của nhà đầu tư. Điều này sẽ giúp giá cổ phiếu thép chuyển biến tích cực.

Kinh doanh có dấu hiệu hồi phục, Tập đoàn Hoa Sen (HSG) bắt đầu tích trữ tồn kho, gia tăng nợ vay để chuẩn bị cho chu kỳ mở rộng mới.

Tương tự, SSI Research cũng có góc nhìn tương đối tích cực về kết quả kinh doanh các công ty thép khi dự báo lợi nhuận đã chạm đáy trong năm 2023 và sẽ phục hồi trong 2 - 3 năm tới. Trong đó, SSI Research kỳ vọng lợi nhuận của các công ty thép sẽ tăng cao trong năm 2024 nhờ sản lượng tiêu thụ cải thiện; biên lợi nhuận gộp tăng trở lại từ mức thấp trong nhiều năm do giá thép nhiều khả năng đã kết thúc xu hướng giảm.

Có thể thấy, dù là kịch bản lạc quan hay cách nhìn thận trọng, thì năm 2024 và năm 2025 vẫn được dự báo là năm mà hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngành thép sẽ hồi phục sau khi chạm đáy vào nửa cuối năm 2022.

Trích trong bài viết: Hoa Sen có dấu hiệu tích trữ trở lại nguồn nguyên liệu của tác giả Bắc Duy đăng trên Báo Đầu tư số 14/2024 ra ngày 31/01/2024 trang 6.



Trong nửa đầu năm 2023, khi hoạt động xuất khẩu thủy sản nói chung và xuất khẩu cá tra chững lại, tồn kho ở các nhà nhập khẩu duy trì mức cao, nhu cầu yếu và giá xuất khẩu giảm, nhưng hàng loạt doanh nghiệp thủy sản vẫn kỳ vọng sức mua sẽ quay lại dịp cuối năm. Song thực tế diễn biến không theo kỳ vọng của nhiều doanh nghiệp.


Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh tiếp tục khó khăn hơn so với kỳ vọng, nhiều doanh nghiệp thủy sản hiện toan tính thay đổi chiến lược quản trị tồn kho, theo đó ưu tiên dòng tiền để đảm bảo khả năng tài chính, chờ thị trường hồi phục. 

Thay vì tích trữ tồn kho chờ tăng giá, CTCP Vĩnh Hoàn (mã VHC) đang giảm tồn kho, giảm khoản phải thu để tối ưu hoá dòng tiền, phát đi tín hiệu thận trọng về quá trình hồi phục của ngành thủy sản, cũng như xuất khẩu cá tra.

Mặc dù lợi nhuận vẫn suy giảm trong quý IV, nhưng bằng việc giảm tồn kho, giảm các khoản phải thu, dòng tiền của Vĩnh Hoàn đã chuyển dịch từ âm 231,1 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2023, sang dương 464 tỷ đồng trong năm 2023. Đây là dấu hiệu cho thấy, Công ty đã ưu tiên dòng tiền hơn là tích trữ tồn kho thâm hụt vốn để chờ thời.

Khi nhu cầu tiêu thụ và giá xuất khẩu cá tra vẫn chưa hồi phục, trong tháng đầu năm 2024 còn chịu thêm áp lực chi phí vận tải tăng cao, thì việc Công ty Vĩnh Hoàn điều chỉnh chiến lược từ tích trữ tồn kho sang ưu tiên bảo vệ dòng tiền là hướng đi hợp lý.

Trích trong bài viết: Vĩnh Hoàn điều chỉnh chiến lược của tác giả Duy Bắc đăng trên Báo Đầu tư số 14/2024 ra ngày 31/01/2024.



Theo nhận định về triển vọng của các doanh nghiệp nhiệt điện (QTP, BTP, PPC, NT2 và HND) trong năm 2024, nhiều công ty chứng khoán đều chung quan điểm, các doanh nghiệp sẽ tiếp tục hưởng lợi, ít nhất là trong nửa đầu năm 2024, do hiện tượng thời tiết El Nino chưa kết thúc.

  • Theo dự báo của Viện Nghiên cứu quốc tế khí hậu và xã hội (IRI), từ tháng 11/2023 - hết tháng 4/2024, El Nino tiếp tục duy trì với xác suất từ 80 - 90%, với cường độ giảm dần trước khi chuyển sang pha trung tính vào giữa năm 2024
  • Thủy điện thiếu hụt: Cục Điều tiết Điện lực (Bộ Công thương) cho biết, các hồ thủy điện khu vực miền Bắc có lưu lượng nước về thấp hơn so với trung bình nhiều năm.
  • Giá than ổn định: Theo dự báo của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) thì nguồn năng lượng tái tạo đang gia tăng nhanh chóng, giúp nhu cầu về than giảm từ năm 2024 và dần ổn định vào năm 2026.

Trích trong bài viết: Nhiệt điện ấm hơn của tác giả Kiều Trang, đăng trên báo Đầu tư Chứng khoán, số 05/2024 ra ngày 29.01.2024

Xung đột biển đỏ khiến giá cước vận tải biển tăng dựng đứng sau khi hàng loạt hãng vận tải định tuyến tàu hàng đi qua mũi Hảo Vọng (Châu Phi) để chuyển hàng đến Châu Âu. Điều này khiến các tàu hàng phải đi vòng thêm khoảng 6000 km và mất thêm 10 ngày trong hải trình Á - Âu. 


Về phương diện đầu tư, trong ngắn hạn những yếu tố này có thể tác động tích cực đến một số nhóm ngành

  1. Hãng vận tải đường biển: nhu cầu tàu hàng vận chuyển gia tăng do các tàu mất thêm nhiều ngày để quay về như trước đó. Điều này cũng làm tăng nhu cầu vỏ container.
  2. Vận tải hàng không: do giá cước vận tải biển tăng cao, chủ hàng sẽ lựa chọn phương án vận tải khác thay thế và trong đó vận tải hàng không là lựa chọn ưu tiên.

Xem xét: HAH, PVT, HPG, VJC


Trích bài viết: Khủng hoảng biển đỏ: giá cước tăng chưa có hồi kết, vận tải biển "đổi vận" của tác giả Đông Phong đăng trên báo Đầu tư số 13/2024 ra ngày 29/01/2024 trang 14.




Trên thế giới hiện có khoảng 75 nước trồng cà phê và chủ yếu tập trung ở Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Khoảng 10 triệu lao động tham gia sản xuất cà phê. Tổng diện tích cà phê thế giới khoảng 10 triệu ha, sản lượng hàng năm trên dưới 8 triệu tấn, đem lại thu nhập cho khoảng 100 triệu người. Nếu kể cả những người trồng và người liên quan đến kinh doanh, dịch vụ và tiêu thụ cà phê thì trên toàn thế giới có khoảng 20-25 triệu người. 

Tại nhiều nước, cà phê chiếm hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đối với các quốc gia trồng cà phê chính, mặt hàng này đóng góp 25% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Hiện tại có 56 nước xuất khẩu cà phê trên thế giới.


Các vùng trồng cà phê trên thế giới được chia thành 3 nhóm theo mùa vụ thu hoạch.

Mùa vụ thu hoạch (tháng)

Nước trồng cà phê

Tháng 4

Angola, Bolivia, Brazil, Burundi, Ecuador, Indonesia, Madagascar, Malawi, Papua New Guinea, Paraguay, Peru, Rwanda, Timor-Leste, Zimbabwe

Tháng 7

Cộng hòa Công gô, Cộng hòa Dominica, Haiti, Philippines, Tanzania, Zambia, Cuba

Tháng 10

Benin, Cameroon, Cộng Hòa Trung Phi, Colombia, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Công gô, Costa Rica, Coote d’Ivoire, El Salvador, Guatemala, Guinea, Guyana, Honduras, India, Jamaica, Kenya, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Liberia, Mexico, Nepal, Nicaragua, Nigeria, Panama, Sierra Leone, Sri Lanka, Thailand, Togo, Trinidad & Tobago, Uganda, Venezuala, Việt Nam, Yemen


Bên dưới là bảng tổng hợp diện tích và năng suất trồng cà phê của 10 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới năm 2023:

NướcDiện tích trồng cà phê (ha)Năng suất (bao)
Brazil2,304,00051,705,833
Việt Nam671,00026,433,000
Colombia933,00010,697,000
Indonesia1,240,0009,790,330
Ethiopia432,0006,310,833
Honduras223,0004,908,333
Uganda208,0003,748,667
Mexico633,0004,091,667
Guatemala223,0003,801,667
Peru390,0003,500,000

  1. Trong khoảng 20 năm từ 1998 đến 2017, sản lượng cà phê các quốc gia có mùa vụ thu hoạch vào tháng 7 biến động rất thấp, dường như không thay đổi. 
  2. Nhóm quốc gia có mùa vụ thu hoạch vào tháng 4 có sản lượng biến động mạnh qua các năm và thường tuân theo quy luật năm có sản lượng cao, năm có sản lượng thấp rất rõ trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010, từ 2010 trở lại đây có mức độ biến động sản lượng qua các năm thấp hơn. 
  3. Nhóm quốc gia sản xuất cà phê có mùa vụ thu hoạch vào tháng 10, sản lượng cà phê biến động qua các năm thấp hơn và có chiều hướng tăng ổn định hơn so với các nước có vụ mùa thu hoạch vào tháng 4.
Sản lượng cà phê của 10 nước có xu hướng biến động phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu; trong đó rõ nhất là 2 nước sản xuất cà phê có sản lượng lớn nhất thế giới, đó là Brazil và Việt Nam. Biến đổi khí hậu là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động này. 

Tại Việt Nam, vụ cà phê 2015/2016 hạn hán đã ảnh hưởng đến trên 100.000 ha cà phê ở vùng Tây Nguyên dẫn đến việc giảm sản lượng. Mặt khác, do ở Việt Nam, diện tích tái canh gia tăng nhanh cùng với việc chuyển đổi một số diện tích cà phê già cỗi sang trồng nên đã ảnh hưởng một phần đến sản lượng cà phê trong vòng 2 năm trở lại đây. Sản lượng cà phê các nước như Colombia, Indonesia có chiều hướng gia tăng khá ổn định trong vòng 6 năm trở lại đây do diện tích cà phê được phục hồi.


Với nhận định giá dầu bình quân cả năm 2024 sẽ được neo ở mức 80 USD/thùng giúp củng cố thêm các yếu tố tiềm năng tăng giá của nhóm cổ phiếu Dầu khí trong năm 2024. 

Giá dầu dự báo neo ở mức cao, chuỗi dự án lớn Lô B- Ô Môn, cùng nhiều dự án thăm dò khai thác khác đang được triển khai tích cực, cộng với đà tăng trưởng, thiết lập nền tảng vững chắc thời gian qua củng cố triển vọng “Khả quan” của nhóm cổ phiếu Dầu khí: BSR, GAS, PVD, và PVS.

BSR

Niêm yết cổ phiếu lên HoSE vẫn sẽ là động lực tăng giá tiềm năng

Crackspreads sản phẩm DO (chiếm khoảng 40% doanh thu của BSR) cải thiện, hỗ trợ cho biên lợi nhuận gộp của BSR. BSR đang tiếp tục tháo gỡ các vướng mắc, dự kiến niêm yết trên HSX trong năm 2024, hứa hẹn tăng thanh khoản cho cổ phiếu và tăng khả năng huy động vốn cho dự án nâng cấp, mở rộng NMLD Dung Quất. Giá dầu trung bình năm 2024 ước tính dao động ở mức cao sẽ tiếp tục giúp kết quả kinh doanh thực tế của BSR được duy trì ở mức ổn định cao hơn kế hoạch. Dự kiến cổ tức tiền mặt cho năm 2023 của BSR có tỷ lệ là 7%. BSR đã tích lũy được số dư tiền ròng dồi dào lên tới 27.400 tỷ đồng (1,12 tỷ USD), đảm bảo cho nhu cầu đầu tư lớn trong thời gian tới. 

Tuy nhiên, có một số rủi ro như, crackspreads các sản phẩm xăng có xu hướng giảm, tác động tiêu cực lên biên lợi nhuận gộp của BSR;

Việc tiến hành bảo dưỡng nhà máy lọc dầu Dung Quất lần thứ 5 (50 ngày) trong năm 2024 dự kiến sẽ khiến doanh thu của BSR giảm 10%. 

Theo Công ty CP chứng khoán VNDIRECT, dù lợi nhuận năm 2024 dự kiến giảm do đợt bảo dưỡng, mức định giá hiện nay của BSR vẫn khá hấp dẫn nhờ khả năng sinh lời và hiệu suất vận hành của BSR cao hơn so với các công ty cùng ngành trong khu vực.

GAS

Triển vọng từ lĩnh vực LNG và Dự án Đường ống dẫn khí Lô B – Ô Môn

Giá LNG trên thị trường thế giới có xu hướng ổn định trong năm 2024 là điều kiện thuận lợi để kho LNG 1 triệu tấn Thị Vải bước vào giai đoạn vận hành, chạy thử, tạo tiền đề cung cấp khí ổn định cho đối tác Nhơn Trạch 3 và 4 trong năm 2024. 

Bên cạnh đó, Dự án đường ống dẫn khí Lô B – Ô Môn khi có quyết định đầu tư cuối cùng (FID) với sản lượng khai thác dự kiến khoảng 5,06 tỷ m3 khí/năm, hứa hẹn sẽ mang lại nguồn doanh thu lớn, ước tính hơn 7 tỷ USD trong suốt quá trình vận hành. GAS đã tăng vốn điều lệ tương đương 23.000 tỷ đồng; dự kiến trả cổ tức tiền mặt cho năm 2023 với tỷ lệ 20% vốn điều lệ.


PVD

Lịch trình khoan bận rộn trong hai năm tới

Giá thuê giàn trung bình trong năm 2024 dự kiến vẫn tăng nhờ vào giá dầu Brent được neo ở mức cao và nhu cầu thuê giàn khoan tăng mạnh, trong khi đó nguồn cung giàn vẫn khan hiếm do lượng đóng mới thấp, là tín hiệu tốt cho các nhà thầu khoan như PVD. Các giàn khoan của PVD đã có việc làm trong năm 2024. Giàn I, II, VI có hợp đồng kéo dài sang năm 2025. Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng, thị trường trong nước sẽ cung cấp lượng việc làm tiềm năng rất lớn cho PVD từ cuối 2025 trở đi với nhiều dự án E&P đang được triển khai.

Theo VNDIRECT, cổ phiếu PVD định giá hấp dẫn nhờ triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ của doanh nghiệp. PVD đang giao dịch ở mức P/B là 1,1x, bằng với mức trung bình lịch sử kể từ năm 2010 và thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp cùng ngành. Tỷ lệ P/E trượt ở mức cao là 36,7x cũng được hỗ trợ bởi kỳ vọng tăng trưởng kép 2 năm đạt 52,8%. VNDIRECT duy trì khuyến nghị “Khả quan” cho PVD với giá mục tiêu 34.500 đồng nhờ triển vọng tăng trưởng vững chắc của doanh nghiệp và giá trị đội giàn khoan hiện tại tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái. PVD hiện đang giao dịch ở mức giá 27.250 đồng/cổ phiếu (ngày 22/1/2024).


PVS

Dự án Lô B – Ô Môn sẽ là động lực tăng trưởng trong ngắn hạn và trung hạn

Chuỗi dự án khí điện Lô B – Ô Môn, nếu FID được phê duyệt sẽ giúp PVS có thể ghi nhận doanh thu từ các hợp đồng với giá trị ước đạt 1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2024. PVS có thể sẽ được hưởng lợi từ dự án mỏ Lạc Đà Vàng Lô 15-1/05 với gói đấu thầu xây dựng 1 giàn xử lý trung tâm và 1 giàn đầu giếng với tổng giá trị hợp đồng là 283 triệu USD. Nhìn chung, chuỗi dự án Lô B với lượng công việc khổng lồ sẽ là động lực tăng trưởng chính của PVS trong hai năm tới. 

Bên cạnh đó, lĩnh vực điện gió ngoài khơi ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ, mang lại lượng công việc ước tính 800 triệu USD cho mảng cơ khí (M&C). Theo xu hướng chuyển đổi sang năng lượng xanh trên toàn cầu, điện gió ngoài khơi là một lĩnh vực đầy hứa hẹn, mang lại tiềm năng rất lớn cho mảng M&C trong dài hạn. 

Bên cạnh đó, giá dầu Brent trung bình ở mức cao sẽ giúp các dự án dầu khí trở nên khả thi và tạo môi trường thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ dầu khí như PVS.

VNDIRECT duy trì khuyến nghị “Khả quan” cho PVS với giá mục tiêu 47.400 đồng, triển vọng tích cực của công ty nhờ vào khối lượng công việc khổng lồ trong mảng M&C và giá dầu dự kiến vẫn sẽ ở mức cao trên 80 USD/thùng trong hai năm tới. PVS hiện đang giao dịch ở mức giá 36.700 đồng/cổ phiếu (ngày 22/1/2024).

Nguồn: PetroTimes

Quỹ đất sẵn sàng cho thuê dồi dào, “của để dành” lớn và sức mạnh tài chính tốt là điểm cộng giúp các doanh nghiệp bất động sản khu công nghiệp đảm bảo tăng trưởng dài hạn khi kinh tế phục hồi.

Khi đánh giá tiềm năng, cũng như sức mạnh tài chính để dự phóng bức tranh tài chính của một doanh nghiệp bất động sản khu công nghiệp, nhà đầu tư thường quan tâm tới hai chỉ báo. 

  • Đầu tiên, đối với doanh nghiệp cho thuê đất ghi nhận 50 năm, doanh thu dài hạn chưa ghi nhận là số tiền mà các đơn vị thuê đất trả tiền một lần, chờ ghi nhận - đây là “của để dành” đảm bảo tăng trưởng dài hạn. 
  • Thứ hai là quỹ đất sẵn sàng cho thuê, từ đó dự phóng doanh thu có thể ghi nhận trong những năm sắp tới. 

Đối với doanh thu dài hạn chưa ghi nhận, tính tới ngày 30/9/2023, Công ty cổ phần Khu công nghiệp Nam Tân Uyên (mã NTC) đang sở hữu 2.936,7 tỷ đồng, chiếm 66,3% tổng nguồn vốn; Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn VRG (mã SIP) sở hữu tới 11.232,7 tỷ đồng, chiếm 55,2% tổng nguồn vốn; Tổng công ty IDICO - Công ty cổ phần (mã IDC) sở hữu 5.159,8 tỷ đồng, chiếm 30,5% tổng nguồn vốn; Tổng công ty Viglacera - Công ty cổ phần (mã VGC) sở hữu 2.652,7 tỷ đồng, chiếm 11,2% tổng nguồn vốn… 

Một số doanh nghiệp ghi nhận doanh thu một lần như Công ty cổ phần Long Hậu (mã LHG), Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc - Công ty cổ phần (mã KBC), Công ty cổ phần Sonadezi Châu Đức (mã SZC)… 


Việc sở hữu doanh thu dài hạn chưa ghi nhận do cách ghi nhận 50 năm, phân bổ đều, đây thực tế là số tiền Công ty đã nhận, chỉ chờ hạch toán sang vốn chủ sở hữu khi đủ điều kiện ghi nhận doanh thu và lợi nhuận. Chính vì vậy, giá trị doanh thu dài hạn chiếm từ hơn 30% đến hơn 70% tổng nguồn vốn sẽ đảm bảo doanh thu ổn định trong một thời gian dài đối với công ty, chưa kể quỹ đất mới tiếp tục phát triển và sẵn sàng cho thuê. 

Quỹ đất sẵn sàng cho thuê Bên cạnh yếu tố “của để dành lớn”, nhà đầu tư quan tâm quỹ đất sẵn sàng cho thuê, đây sẽ là động lực tăng trưởng của nhóm bất động sản khu công nghiệp. Tại IDICO (mã chứng khoán: IDC), trong 9 tháng đầu năm 2023, Công ty ghi nhận ký thoả thuận giữa hai bên khoảng 122 ha đất có thể cho thuê (kế hoạch năm cho thuê 100 ha). Trong đó, các khách hàng lớn ký thoả thuận có thể thuê gồm PepsiCo thuê 20 ha tại Khu công nghiệp Hựu Thạnh với giá 130 USD/m2/ chu kỳ thuê; Hyosung thuê 25 ha tại Khu công nghiệp Phú Mỹ II với giá 125 USD/ m2/chu kỳ thuê… 

Theo ước tính của Công ty cổ phần Chứng khoán SSI, IDICO còn diện tích thương phẩm khá lớn ở các khu công nghiệp. Trong đó, Khu công nghiệp Phú Mỹ II còn lại 119 ha (tỷ lệ lấp đầy 73%); Khu công nghiệp Phú Mỹ II mở rộng còn 117 ha (tỷ lệ lấp đầy 7%); Khu công nghiệp Hựu Thạnh còn 294 ha (tỷ lệ lấp đầy là 26%); Khu công nghiệp Quế Võ II còn 71 ha (tỷ lệ lấp đầy là 60%); Khu công nghiệp Cầu Nghìn còn lại 76 ha (tỷ lệ lấp đầy là 26%). 

Theo kế hoạch, trong năm 2023, IDICO sẽ cho thuê 100 ha, năm 2024 sẽ cho thuê 144 ha…, với kế hoạch cho thuê, biên bản ghi nhớ giữa đối tác và quỹ đất sẵn có. Đây là cơ sở để tin rằng, tình hình tài chính của IDICO tiếp tục tăng trưởng nhờ quỹ đất cho thuê mới, cũng như chuyển cách hạch toán 50 năm sang 1 lần tại các khu công nghiệp hiện hữu. 

Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn VRG chia sẻ, Công ty còn lại quỹ đất tương đối lớn có thể phát triển. Trong đó, Khu công nghiệp Phước Đông còn lại đất thương phẩm khoảng 799,6 ha, giá cho thuê khoảng 80 - 100 USD/m2/chu kỳ thuê; Khu công nghiệp Lộc An - Bình Sơn còn khoảng 131,25 ha, giá cho thuê 210 - 230 USD/m2/chu kỳ thuê; Khu công nghiệp Đông Nam còn khoảng 24,78 ha, giá cho thuê khoảng 260 USD/m2/chu kỳ thuê; Khu công nghiệp Lê Minh Xuân 3 còn lại khoảng 105,44 ha, giá cho thuê khoảng 290 USD/m2/chu kỳ thuê. 

Tính đến cuối quý III/2023, lãnh đạo Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn VRG (mã chứng khoán: SIP) cho biết, quỹ đất còn lại hơn 1.200 ha đất khu công nghiệp và khoảng 170 ha đất khu đô thị đã giải phóng mặt bằng tại Dự án Khu đô thị Phước Đông giai đoạn A. Trong đó, 700 ha đã được giao đất (500 ha đất là thương phẩm) và 600 ha đất đã có chủ trương đầu tư. “Việc sở hữu quỹ đất lớn giúp Công ty duy trì triển vọng cho thuê đất và tạo dư địa tăng trưởng dài hạn, bởi kỳ vọng nhu cầu tăng do nguồn cung đất hiện tại hạn chế ở các tỉnh phía Nam, cũng như giá đất tăng”, Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap đánh giá về triển vọng của Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn VRG. Với quỹ đất còn lại khoảng 1.200 ha, Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn VRG chia sẻ, sẽ đảm bảo khả năng phát triển bền vững trong vòng 3 - 5 năm tới. 

Tại Công ty cổ phần Sonadezi Châu Đức (mã chứng khoán: SZC), có hơn 300 ha đất sẵn sàng cho thuê tại Bà Rịa - Vũng Tàu và được hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng được cải thiện thông qua đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, Cảng Cái Mép và Gemalink. Trong đó, Công ty cổ phần Chứng khoán SSI ước tính, nửa cuối năm 2023, lợi nhuận của Công ty Sonadezi Châu Đức có thể tăng trưởng 110% so với cùng kỳ do tiếp tục ghi nhận diện tích cho thuê còn lại của Tổng công ty cổ phần Phát triển Khu công nghiệp (Sonadezi) và Dự án Khu đô thị Sonadezi Hữu Phước.

Trích bài viết: Kiểm kê của để dành của tác giả Hạc Hiên đăng trên Toàn cảnh thị trường bất động sản năm 2023, trang 242 - 243.

Hàng tồn kho là một trong những áp lực lớn nhất đối với các doanh nghiệp bất động sản trong năm 2023. Hàng tồn kho có tính hai mặt, việc tăng lượng hàng tồn kho nếu nằm trong kế hoạch sẽ là lợi thế của doanh nghiệp khi thị trường quay lại quỹ đạo phát triển ổn định. Song, đặt trong bối cảnh rất nhiều điểm nghẽn pháp lý còn trói chân các chủ đầu tư, lượng hàng tồn kho chưa phải là thành phẩm thực sự đáng lo ngại.

Lượng hàng tồn kho lớn có thể là “của để dành” quan trọng của doanh nghiệp khi thị trường phục hồi, nhưng nếu đó là hàng dở dang do vướng pháp lý thì lại là… cục nghẹn khó nuốt. 


Số liệu thống kê từ báo cáo tài chính quý III/2023 của 10 doanh nghiệp bất động sản có vốn hóa lớn trên sàn chứng khoán cho thấy, tổng giá trị hàng tồn kho ròng tại thời điểm cuối quý III/2023 đạt 270.099 tỷ đồng (khoảng 11,1 tỷ USD), tăng lần lượt 4% và 35% so với cùng kỳ năm 2022 và 2021.

Trong đó, Novaland là doanh nghiệp dẫn đầu với khoảng 137.594 tỷ đồng, riêng giá trị quỹ đất và dự án đang xây dựng chiếm gần 92,2%; phần còn lại là bất động sản đã xây dựng hoàn thành và hàng hóa bất động sản, bất động sản đã hoàn thiện chờ bàn giao cho khách hàng. 

Vinhomes đứng thứ hai với khoảng 54.628 tỷ đồng, giảm chưa tới 500 tỷ đồng so với quý II/2023, nhưng so với hồi đầu năm 2023, hàng tồn của Vinhomes đã giảm hơn 10.000 tỷ đồng.

Tương tự, hàng tồn kho của Becamex IDC tính đến cuối quý III/2023 đạt 22.166 tỷ đồng, tăng hơn 6% so với đầu năm, phần lớn do tăng chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang tại các dự án của doanh nghiệp. Đáng chú ý, doanh nghiệp còn gần 2.142 tỷ đồng chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tại các dự án như Hòa Lợi, TĐC Plaza, TĐC Hòa Lợi, Unitown - giai đoạn 2, Lake View… 

Đứng sau ba ông lớn này với mức tồn kho trên 10.000 tỷ đồng là nhóm các nhà phát triển gồm Khang Điền, Nam Long, Đất Xanh và Phát Đạt. 

  • Khang Điền ghi nhận hàng tồn kho tăng mạnh, đạt 17.152 tỷ đồng (tăng 38%). Phần lớn hàng tồn kho của Khang Điền đến từ các dự án dở dang, như: Khang Phúc - khu dân cư Tân Tạo (5.932 tỷ đồng, tăng 11%), Đoàn Nguyên - Bình Trưng Đông (3.368 tỷ đồng, tăng 3%)… 
  • Nam Long cũng ghi nhận hàng tồn kho tính đến cuối quý III/2023 đạt 16.800 tỷ đồng, tăng hơn 2.000 tỷ đồng so với đầu năm nay. Trong đó, tồn kho ở dự án Izumi 9.037 tỷ đồng, tăng hơn 700 tỷ đồng so với đầu năm; tồn kho ở dự án Waterpoint giai đoạn 1 là 3.556 tỷ đồng - giai đoạn 2 là 1.527 tỷ đồng; dự án Hoàng Nam (Akari) hơn 1.047 tỷ đồng… 
  • Trong khi đó, hàng tồn kho của Đất Xanh và Phát Đạt lại ghi nhận giảm nhẹ, lần lượt 14.800 tỷ đồng và 12.150 tỷ đồng. Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục hàng tồn kho của Đất Xanh vẫn là bất động sản dở dang, với giá trị 10.745 tỷ đồng, giảm 8,3% so với đầu năm. Bất động sản thành phẩm tăng gần gấp đôi, đạt giá trị gần 3.141 tỷ đồng.

Trích bài viết: Hai mặt của hàng tồn kho của tác giả Trọng Tín đăng trên Toàn cảnh thị trường bất động sản năm 2023, trang 240 - 241.



Dọn tổ đón đại bàng, các “ông lớn” trong ngành bất động sản khu công nghiệp như KBC, BCM, IDC và SIP đều đang sẵn sàng chờ đón cơ hội từ làn sóng dịch chuyển và chọn Việt Nam là bến đỗ đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. 


Chẳng hạn, Tổng công ty cổ phần Phát triển đô thị Kinh Bắc (Kinh Bắc, mã chứng khoán: KBC) đang tận dụng tốt lợi thế quỹ đất chất lượng cao, tập trung vào việc cung cấp chuỗi giá trị hoàn chỉnh cho sản xuất linh kiện điện tử và bán dẫn sẽ đưa Khu công nghiệp Tràng Duệ 3, do Công ty cổ phần Khu công nghiệp Sài Gòn - Hải Phòng (thành viên của Kinh Bắc) làm chủ đầu tư, trở thành điểm đến hấp dẫn. Với đóng góp mới từ Khu công nghiệp Tràng Duệ 3.

Kinh Bắc kỳ vọng sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2024 - 2025, với tốc độ tăng trưởng lần lượt đạt 5,9% và 33,4%. 

Tổng công ty Đầu tư và Phát triển công nghiệp (Becamex, mã chứng khoán: BCM) là nhà phát triển khu công nghiệp hàng đầu với tổng diện tích đất sẵn sàng cho thuê đạt 659 ha, diện tích đất thương mại còn lại là 141 ha tại Thành phố mới Bình Dương (100% thuộc sở hữu của Becamex). Khu công nghiệp mới của Becamex là Khu công nghiệp Cây Trường với diện tích 700 ha sẽ được triển khai trong quý I/2024, hỗ trợ thêm tăng trưởng của Becamex nhờ tỷ lệ lấp đầy tại tỉnh Bình Dương gần như đạt 96%. SSI Research nhận định, ước tính doanh thu và lợi nhuận sau thuế năm 2023 của Becamex lần lượt đạt 10.600 tỷ đồng (tăng 62,5%) và 2.650 tỷ đồng (tăng 54,6%), hoàn thành 117% kế hoạch. 

Năm 2024, ước tính tổng doanh thu và lợi nhuận sau thuế của Becamex lần lượt đạt 7.800 tỷ đồng và 2.500 tỷ đồng. Biên lợi nhuận gộp dự kiến đạt 64% (tăng 3%) do giá thuê tăng. 

Trong khi đó, Tổng công ty IDICO (mã chứng khoán: IDC) có diện tích sẵn sàng cho thuê lớn lên tới hơn 677 ha chủ yếu tại Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bắc Ninh. Các khu công nghiệp đều còn nhiều quỹ đất và đang thu hút khá nhiều dòng vốn với giá cho thuê lên tới 125 - 135 USD/m2, tập trung tại các vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc và phía Nam. 

IDICO cũng đang đẩy nhanh tiến độ xin chủ trương đầu tư Khu công nghiệp Tân Phước tại Tiền Giang với tổng diện tích 470 ha, đồng thời triển khai kế hoạch xây dựng hơn 100 ha nhà xưởng xây sẵn, bắt đầu với 10 ha tại Khu công nghiệp Nhơn Trạch I và 28 ha tại Khu công nghiệp Hựu Thạnh. 

Đối với Tổng công ty Đầu tư Sài Gòn VRG (mã chứng khoán: SIP), tổng diện tích khu công nghiệp sở hữu lên tới 3.264 ha. Diện tích còn có thể cho thuê lên tới hơn 1.087 ha, tập trung chủ yếu ở Tây Ninh (gần 800 ha), đặc biệt là các vị trí đắc địa tại TP.HCM (hơn 150 ha), Long Thành (144 ha). Khu công nghiệp Phước Đông giai đoạn II phân kỳ B có tổng diện tích 557 ha đang chờ đơn giá bồi thường, diện tích sẵn sàng cho thuê đạt 290 ha. Khu công nghiệp Lê Minh Xuân 3 hầu như đã giải phóng hết và đang có định hướng xây nhà xưởng cho thuê thay vì cho thuê hết diện tích đất. Khu công nghiệp Lộc An Bình Sơn (144 ha sẵn sàng cho thuê) ngay sát sân bay Long Thành cũng có mức giá trên 200 USD/m2/thời gian thuê. Năm 2023, SIP được dự phóng doanh thu có thể tăng 3,57% so với cùng kỳ, đạt 6.523 tỷ đồng.

Trích bài viết: Đón sóng dịch chuyển của tác giả Hải Minh đăng trên Toàn cảnh thị trường bất động sản năm 2023, trang 58-59.


Author Name

Contact Form

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.