Chuyên mục "Commodity"

Showing posts with label Commodity. Show all posts

Với sự đốc thúc liên tục của các cơ quan quản lý, dự án Lô B - Ô Môn đã có những tín hiệu rõ ràng hơn về khả năng sớm được triển khai sau thời gian chậm tiến độ. Dự án này có quy mô đầu tư gần 12 tỷ USD, dự kiến đem lại nguồn công việc rất lớn cho các doanh nghiệp thượng nguồn trong 2 - 3 năm tới.

Hiện tại, nhu cầu về dầu khí đang mở rộng, nhất là trong lĩnh vực phát điện. Điện khí sẽ trở thành nguồn điện quan trọng đến năm 2030 theo Quy hoạch điện VIII, với tỷ trọng chiếm đến 21,8%. Các dự án điện khí đang được đẩy mạnh phát triển, nhưng nguồn cung khí trong nước chưa đủ đáp ứng, nên khí cho phát điện chủ yếu vẫn là khí nhập khẩu.

  • Trước đó, SSI Research ước tính, PTSC sẽ ghi nhận khối lượng công việc liên quan đến Lô B - Ô Môn đến năm 2025 (đường ống phải sẵn sàng hoạt động trước khi khai thác dòng khí đầu tiên vào năm 2026) và ghi nhận khoản lợi nhuận ròng hàng năm từ 70 - 100 tỷ đồng 
  • Ở phân khúc trung nguồn, cơ hội nhiều khả năng sẽ đến với PVCoating, nhờ lợi thế là đơn vị độc quyền trong nước phụ trách chính về mảng bọc ống dẫn dầu khí cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam PVCoating đang theo dõi tiến độ triển khai các dự án Lạc Đà Vàng, Sư Tử Trắng, Zawtikia-1E… để tham gia đấu thầu, đàm phán và ký kết hợp đồng bọc ống. Công ty cũng sẽ mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh, trong đó ưu tiên các lĩnh vực nằm trong chuỗi giá trị của PV Gas.
  • PVC-MS cho biết, mục tiêu hiện tại của Công ty là thực hiện liên danh, liên kết với các đơn vị mạnh trong nước để đấu thầu chế tạo, lắp ráp các giàn khoan dầu khí hạng nhẹ và trung bình cho ngành dầu khí như các dự án phát triển mỏ Phú Quốc, Đại Hùng pha 3, đảm nhiệm vai trò nhà thầu phụ cho Vietsovpetro, PTSC...
  • Ban lãnh đạo PVChem cũng nhận thấy doanh nghiệp có cơ hội lớn khi Tập đoàn Dầu khí Việt Nam triển khai các siêu dự án như Lô B - Ô Môn, Cá Voi Xanh. Theo kế hoạch sản xuất, PVChem đặt mục tiêu duy trì và phát triển tối thiểu 70% thị phần dung dịch khoan trong nước.

Một động lực khác của ngành dầu khí là Việt Nam đã có khung pháp lý hoàn thiện hơn, trong đó Luật Dầu khí năm 2022 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2023 và được quy định chi tiết tại Nghị định 45/2023/NĐ-CP, giúp thúc đẩy và phát triển hoạt động dầu khí. 

Triển vọng cổ phiếu dầu khí với dự án Lô B - Ô Môn
Triển vọng cổ phiếu dầu khí với dự án Lô B - Ô Môn

Nguồn: Báo Đầu tư chứng khoán (số 13, ra ngày 25/03/2024)

Cùng tham khảo một số ảnh hưởng từ hiện tượng El Nino và La Nina ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng nông nghiệp của một số nền nông nghiệp quan trọng trong năm 2024 như thế nào.

  • Theo dự báo của CDC, hiện tượng El Nino kéo theo thời tiết nóng, khô ở Châu Á và lượng mưa bất thường ở nhiều vùng của Châu Mỹ sẽ kết thúc trong nửa đầu năm 2024. Sau đó, có đến 55% khả năng La Nina sẽ xuất hiện vào tháng 6 đến tháng 8.
  • Thông thường khi La Nina xuất hiện, các nước Đông Nam Á, Australia và Ấn Độ sẽ chứng kiến nhiều mưa tuyết hơn, trong khi thời tiết tại các vùng trồng ngũ cốc và hạt dầu ở Châu Mỹ sẽ khô hơn. La Nina cũng thúc đầy mùa bão mạnh với sức tàn phá lớn ở Đại Tây Dương, đồng thời làm tăng điều kiện khô hạn ở Nam California và vùng trung tây nước Mỹ. La Nina có thể ảnh hưởng đến sản lượng lúa mì và ngô ở Mỹ, đậu nành và ngô ở khu vực Mỹ Latinh, trong đó có Brazil. Sản lượng gạo của Ấn Độ - nhà xuất khảo gạo lớn nhất thế giới cũng bị giảm vì tác động của hiện tượng gió mùa. Trong khi đó, các nước trồng cọ và lúa ở Đông Nam Á cũng đón nhận lượng mưa thấp hơn thông thường. Nếu La Nina xuất hiện kèm theo gió mùa (kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9) sẽ có lợi cho nông nghiệp vì gió mùa sẽ mang theo lượng mưa đáng kể trong thời gian xảy ra La Nina (khoảng 70% lượng mưa tại Ấn Độ).



Bên cạnh những yếu tố địa chính trị và sự phát triển kinh tế thế giới thì bên dưới là một số yếu tố cần được quan tâm chính về thị trường dầu mỏ năm 2024:

  • Bất ổn địa chính trị: Nga - Ukraine, xung đột Biển Đỏ
  • Nhu cầu tăng trưởng dự báo: 1.1 triệu thùng/ngày (IEA) đến 2.25 triệu thùng/ngày (OPEC)
  • Nguồn cung dự kiến tăng 1.2 - 1.9 triệu thùng/ngày, chủ yếu đến từ các nước ngoài OPEC
  • Sự tuân thủ cắt giảm sản lượng 2.2 triệu thùng/ngày của nhóm OPEC+. Nếu sự cắt giảm này được tuân thủ thì có thể dẫn đến mức thâm hụt 500 nghìn thùng/ngay (theo ANZ).
  • Mỹ gia hạn lệnh trừng phạt đối với Venezuela thêm 6 tháng nữa kể từ tháng 4/2024. Việc dở bỏ lệnh trừng phạt sớm có thể gia tăng nguồn cung từ Venezuela lên mức 880 nghìn thùng/ngày (2024) và 963 nghìn thùng ngày (2025).
  • Thêm nhiều nhà máy lọc dầu mới ở Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico, Trung Đông và Nigeria sẽ làm tăng nguồn cung dầu nhẹ, làm giảm sự chênh lệch giá giữa các loại dầu thô khác nhau trên toàn cầu.



Xung đột biển đỏ khiến giá cước vận tải biển tăng dựng đứng sau khi hàng loạt hãng vận tải định tuyến tàu hàng đi qua mũi Hảo Vọng (Châu Phi) để chuyển hàng đến Châu Âu. Điều này khiến các tàu hàng phải đi vòng thêm khoảng 6000 km và mất thêm 10 ngày trong hải trình Á - Âu. 


Về phương diện đầu tư, trong ngắn hạn những yếu tố này có thể tác động tích cực đến một số nhóm ngành

  1. Hãng vận tải đường biển: nhu cầu tàu hàng vận chuyển gia tăng do các tàu mất thêm nhiều ngày để quay về như trước đó. Điều này cũng làm tăng nhu cầu vỏ container.
  2. Vận tải hàng không: do giá cước vận tải biển tăng cao, chủ hàng sẽ lựa chọn phương án vận tải khác thay thế và trong đó vận tải hàng không là lựa chọn ưu tiên.

Xem xét: HAH, PVT, HPG, VJC


Trích bài viết: Khủng hoảng biển đỏ: giá cước tăng chưa có hồi kết, vận tải biển "đổi vận" của tác giả Đông Phong đăng trên báo Đầu tư số 13/2024 ra ngày 29/01/2024 trang 14.




Trên thế giới hiện có khoảng 75 nước trồng cà phê và chủ yếu tập trung ở Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Khoảng 10 triệu lao động tham gia sản xuất cà phê. Tổng diện tích cà phê thế giới khoảng 10 triệu ha, sản lượng hàng năm trên dưới 8 triệu tấn, đem lại thu nhập cho khoảng 100 triệu người. Nếu kể cả những người trồng và người liên quan đến kinh doanh, dịch vụ và tiêu thụ cà phê thì trên toàn thế giới có khoảng 20-25 triệu người. 

Tại nhiều nước, cà phê chiếm hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đối với các quốc gia trồng cà phê chính, mặt hàng này đóng góp 25% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Hiện tại có 56 nước xuất khẩu cà phê trên thế giới.


Các vùng trồng cà phê trên thế giới được chia thành 3 nhóm theo mùa vụ thu hoạch.

Mùa vụ thu hoạch (tháng)

Nước trồng cà phê

Tháng 4

Angola, Bolivia, Brazil, Burundi, Ecuador, Indonesia, Madagascar, Malawi, Papua New Guinea, Paraguay, Peru, Rwanda, Timor-Leste, Zimbabwe

Tháng 7

Cộng hòa Công gô, Cộng hòa Dominica, Haiti, Philippines, Tanzania, Zambia, Cuba

Tháng 10

Benin, Cameroon, Cộng Hòa Trung Phi, Colombia, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Công gô, Costa Rica, Coote d’Ivoire, El Salvador, Guatemala, Guinea, Guyana, Honduras, India, Jamaica, Kenya, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Liberia, Mexico, Nepal, Nicaragua, Nigeria, Panama, Sierra Leone, Sri Lanka, Thailand, Togo, Trinidad & Tobago, Uganda, Venezuala, Việt Nam, Yemen


Bên dưới là bảng tổng hợp diện tích và năng suất trồng cà phê của 10 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới năm 2023:

NướcDiện tích trồng cà phê (ha)Năng suất (bao)
Brazil2,304,00051,705,833
Việt Nam671,00026,433,000
Colombia933,00010,697,000
Indonesia1,240,0009,790,330
Ethiopia432,0006,310,833
Honduras223,0004,908,333
Uganda208,0003,748,667
Mexico633,0004,091,667
Guatemala223,0003,801,667
Peru390,0003,500,000

  1. Trong khoảng 20 năm từ 1998 đến 2017, sản lượng cà phê các quốc gia có mùa vụ thu hoạch vào tháng 7 biến động rất thấp, dường như không thay đổi. 
  2. Nhóm quốc gia có mùa vụ thu hoạch vào tháng 4 có sản lượng biến động mạnh qua các năm và thường tuân theo quy luật năm có sản lượng cao, năm có sản lượng thấp rất rõ trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010, từ 2010 trở lại đây có mức độ biến động sản lượng qua các năm thấp hơn. 
  3. Nhóm quốc gia sản xuất cà phê có mùa vụ thu hoạch vào tháng 10, sản lượng cà phê biến động qua các năm thấp hơn và có chiều hướng tăng ổn định hơn so với các nước có vụ mùa thu hoạch vào tháng 4.
Sản lượng cà phê của 10 nước có xu hướng biến động phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu; trong đó rõ nhất là 2 nước sản xuất cà phê có sản lượng lớn nhất thế giới, đó là Brazil và Việt Nam. Biến đổi khí hậu là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động này. 

Tại Việt Nam, vụ cà phê 2015/2016 hạn hán đã ảnh hưởng đến trên 100.000 ha cà phê ở vùng Tây Nguyên dẫn đến việc giảm sản lượng. Mặt khác, do ở Việt Nam, diện tích tái canh gia tăng nhanh cùng với việc chuyển đổi một số diện tích cà phê già cỗi sang trồng nên đã ảnh hưởng một phần đến sản lượng cà phê trong vòng 2 năm trở lại đây. Sản lượng cà phê các nước như Colombia, Indonesia có chiều hướng gia tăng khá ổn định trong vòng 6 năm trở lại đây do diện tích cà phê được phục hồi.


Chuỗi cung ứng toàn cầu đang đối mặt với nguy cơ đứt gãy trong dài hạn khi chưa có một giải pháp nào mang tính khả thi lâu dài cho kênh đào Panama đang "khát nước".

Một nguyên nhân sâu xa của lượng mưa giảm ở Panama có liên quan đến nạn phá rừng nhiệt đới ở Trung và Nam Mỹ. Điều này cho thấy nguồn nước từ mưa cho việc khai thác kênh đào Panama sẽ không phải chỉ trong ngắn hạn mà sẽ còn kéo dài trong nhiều năm tới.

Trích trong bài viết: Hạn hán ở kênh đào Panama đe dọa dứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu của tác giả Nguyễn Bảo Quốc trên tạp chí Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 18/01/2024 trang 62-63.



Hiệp hội hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) dự báo một sự sụt giảm trong sản lượng hồ tiêu của các nhà xuất khẩu chính, cụ thể: Việt Nam giảm 10-15% so với năm 2023 (đạt chừng 160 - 165 nghìn tấn), Indonesia giảm 20-30%, Ấn Độ (giảm 20%), Brazil (giảm 15%). VPSA cũng dự kiến xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam chỉ quanh mức 250 nghìn tấn trong năm nay.

Khi điều kiện sống của các nhà vườn hồ tiêu đã khá hơn khi giá các loại các cây công nghiệp dài ngày (sầu riêng, cà phê,...) tăng giá tốt, do vậy, họ có nhiều lựa chọn để trang trải cho chi tiêu gia đình mà không cần vội vàng bán hồ tiêu. Trong khi nhu cầu hồ tiêu ở Trung Quốc (món gia vị được yêu chuộng) đã lấy lại nhịp tiêu thụ. 

Năm 2023, Trung Quốc đã nhập khẩu trên 60 nghìn tấn hồ tiêu các loại của Việt Nam (chiếm gần 23% tổng lượng xuất khẩu) và tăng 174% so với năm 2022.

Trích trong bài:

Hồ Tiêu: Thị trường đã bắt đầu chịu nghe nhà vườn? của tác giả Nguyễn Quang Bình, trên báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 18/01/2024 trang 25.

Theo CafeF, dựa trên số liệu năm 2023:
  • Châu Á là khu vực thị trường lớn nhất của hạt tiêu Việt Nam, chiếm 52,7% thị phần. Trong đó, chỉ riêng Trung Quốc chiếm 22,8% thị phần xuất khẩu, đạt 60.135 tấn.
  • Khu vực châu Mỹ đứng thứ 2 về thị phần xuất khẩu chiếm 22,8%, trong đó, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của hồ tiêu Việt Nam đạt 54.271 tấn, chiếm 20,5%
  • Thị trường châu Âu chiếm 19,5%.
  • Tiếp theo là các thị trường Ấn Độ (4.9% với 12.812 tấn), UAE (4.6% với 12.132 tấn), Philippines (3.0% với 8.021 tấn).


Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) dự báo sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ 2020-2021 đạt 169,6 triệu bao (loại 60 kg/bao), tăng nhẹ 0,4% so với 169 triệu bao của niên vụ trước. Trong đó, sản lượng cà phê arabica dự kiến tăng 2,3% lên 99,3 triệu bao, trong khi sản lượng cà phê robusta giảm 2,1% xuống mức 70,4 triệu bao.

Tiêu thụ cà phê thế giới trong niên vụ 2020 - 2021 dự kiến đạt 167,01 triệu bao, tăng 1,9% so với niên vụ 2019-2020, nhưng vẫn thấp hơn 0,3% so với niên vụ 2018-2019, thời điểm trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát.


Trong tháng 8, giá cà phê thế giới ghi nhận tháng tăng thứ 10 liên tiếp do lo ngại nguồn cung trong bối cảnh điều kiện khí hậu bất lợi ở các nước sản xuất lớn và chi phí vận chuyển hàng hóa ngày càng tăng cao.

Tại Việt Nam, trong tháng 8, tình hình dịch COVID-19 căng thẳng gây đứt gãy chuỗi cung ứng cà phê sang thị trường các nước Châu Âu theo Hiệp định EVFTA. Đồng thời, việc thiếu container và giá cước tàu tăng càng khiến nguồn cung cà phê từ Việt Nam sang các nước trở nên khó khăn hơn.

Theo ước tính của Cục Xuất nhập khẩu, xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 8/2021 đạt 105 nghìn tấn, trị giá 207 triệu USD, giảm 14,1% về lượng và giảm 11,9% về trị giá so với tháng 7/2021, nhưng so với tháng 8/2020 tăng 4,8% về lượng và tăng 12,3%. Việc giá cà phê thế giới tăng mạnh trong tháng 8 đã giúp giá ở thị trường nội địa tăng theo và ghi nhận mức cao kỷ lục.

Với sự đứt gãy nguồn cung từ Việt Nam và Brazil và chi phí logistics tăng quá cao, giá cà phê thế giới được dự báo tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới. Ngoài ra, dịp Noel và các dịp lễ tết cuối năm ở các nước trên thế giới đang đến gần, đồng thời, các nhà hàng, khách sạn được mở cửa trở lại giúp đẩy mạnh nhu cầu cà phê hơn. Đây là hai yếu tố vững chắc giúp hỗ trợ giá cà phê thế giới trong thời gian tới. Điều này đồng nghĩa giá cà phê tại Việt Nam cũng được hưởng lợi.

Nguồn: VietnamBiz

Tải về: Báo cáo thị trường cà phê Tháng 8/2021


Chính sách giãn cách xã hội và sự suy giảm trong tổng cầu của nhiều ngành công nghiệp khổng chỉ ảnh hưởng đến nhu cầu của các kim loại công nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung của các kim loại này. Tuy nhiên, tác động của dịch bệnh đến mỗi loại kim loại rất khác nhau. Chẳng hạn như mặt hàng nhôm hầu như không bị ảnh hưởng. Trái lại, nguồn cung thiếc và kẽm bị đứt gãy đáng kể, một phần do chính sách phong tỏa nghiêm ngặt ở Peru – nhà sản xuất chính đối với cả 2 kim loại này.

Peru – nhà sản xuất chính đối với thiếc và kẽm, trong khi, Chile – nhà sản xuất đồng lớn nhất thế giới.

Kim loại thiếc

Chính sách phong tỏa/giãn cách xã hội đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất của 3 trong số 5 nước sản xuất thiếc lớn nhất thế giới (không kể Trung Quốc).

Các hãng Minsur của Peru, EM Vinto của Bolivia và Smelting Corp của Malaysia sản xuất tổng cộng 55.400 tấn thiếc trong năm 2019, chiếm 17% sản lượng toàn cầu. Cả 3 hãng này đều sản xuất liên hoàn, tức là gồm cả khai thác mỏ và tinh luyện kim loại. Do đó, việc họ tạm dừng hoạt động để chống Covid-19 đã ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung thiếc tinh luyện. Đó là lý do khiến giá thiếc trên Sàn giao dịch kim loại London (LME) hầu như không suy giảm mặc dù nhu cầu sụt giảm. Hiện thiếc kỳ hạn giao sau 3 tháng – kỳ hạn tham chiếu – trên sàn London có giá 16.800 USD/tấn, chỉ thấp hơn 2% so với hồi đầu năm. Nguyên nhân bởi nguồn cung mặt hàng này rất "căng thẳng".

Trung Quốc, nước sản xuất thiếc lớn nhất thế giới, đã rất chật vật do thiếu nguyên liệu thô, và phải phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn cung từ Mynmar – nhà cung cấp thiếc lớn nhất của Trung Quốc.

Từ tháng 9 năm ngoái, Trung Quốc đã trở thành nhà nhập khẩu ròng mặt hàng thiếc, và kể từ đó tình hình vẫn chưa thay đổi. Tổng nhập khẩu thiếc ròng trong 4 tháng đầu năm 2020 đạt 2.600 tấn. Điều này trái ngược với kết quả 4 tháng đầu năm 2019, khi Trung Quốc xuất khẩu ròng 3.600 tấn thiếc. Trong khi đó, hãng PT Timah của Indonesia cũng đang hạ mục tiêu về khối lượng tiêu thụ thiếc năm 2020 xuống 55.000 tấn.

Rõ ràng Covid-19 khiến cho nguồn cung thiếc vốn đang khan hiếm càng trở nên thiếu hụt nghiêm trọng.

Kim loại kẽm

Sản xuất ở các mỏ khai thác kẽm đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi chính sách giãn cách/phong tỏa xã hội để chống Covid-19, nhất là ở Peru – một trong những nhà cung cấp tinh quặng kẽm lớn trên thế giới.

Các nhà phân tích của Macquarie Bank ngày 24/6 ước tính sản xuất kẽm bị tổn thất hơn 500.000 tấn, chiếm hơn 4% nguồn cung toàn cầu. Trong khi đó, các nhà phân tích của JP Morgan ngày 22/6 đánh giá mức tổn thất nhiều hơn thế, lên tới 790.000 tấn, sau khi hàng loạt các nhà máy phải đóng cửa.

Điều khác biệt giữa kẽm và thiếc là nguồn cung kẽm trước khi xảy ra dịch Covid-19 ở trong trạng thái dư thừa.

Sau khi thiếu hụt vào các năm 2017 và 2018, thị trường kẽm chuyển sang dư thừa vào năm 2019, khi các nhà máy luyện kẽm của Trung Quốc tăng cường sản xuất, đẩy giá giảm sâu. Đó là lý do khiến giá kẽm giảm khoảng 9% từ đầu năm đến nay, nhiều gấp 4 lần mức giảm của giá thiếc. Đóng cửa phiên 26/6, giá kẽm giao sau 3 tháng trên sàn LME – tham chiếu cho toàn cầu – là 2.082 USD/tấn.

Vì vậy, khi các mỏ kẽm ở Peru mở cửa trở lại, thị trường kẽm thế giới nhiều khả năng sẽ nhanh chóng chuyển sang dư thừa.

Kim loại đồng

Yếu tố tác động chính đến thị trường đồng vào thời điểm hiện tại chính là Chile.

Phiên giao dịch 26/6/2020, giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn London – tham chiếu cho toàn cầu – đã chạm "đỉnh" 5 tháng sau 5 tuần liên tiếp tăng, do lo ngại sản lượng ở Chile sụt giảm khi công ty khai thác mỏ đồng Codelco của Chile – nhà khai thác đồng lớn nhất thế giới - dừng hoạt động tại nhà máy tinh chế và đúc đồng ở chi nhánh Chuquicamata để ngăn chặn sự lây lan của Covid-19.

Chuquicamata là chi nhánh lớn thứ 2 của Codelco sau El Teniente, với sản lượng năm 2019 là 385.000 tấn.

Bộ trưởng Bộ Khai thác mỏ Chile, Baldo Prokurica, dự báo sản lượng đồng của nước này sẽ giảm 200.000 tấn do ảnh hưởng của việc số ca nhiễm virus tăng lên. Điều này trái ngược với việc sản lượng đồng nước này đã tăng 3,6% trong 4 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm ngoái.

Trên phạm vi toàn cầu, JP Morgan dẫn số liệu của hãng nghiên cứu CRU cho rằng mức độ thiệt hại của Covid-19 đối với sản lượng đồng là khoảng 440.000 tấn.

Tuy nhiên, ngân hàng Macquarie cho biết, nguồn cung từ các mỏ khai thác đồng bị ảnh hưởng bởi Covid-19 ít hơn so với kẽm hay nickel, và nguồn cung đồng tinh luyện chịu ảnh hưởng ít nhất trong số các kim loại cơ bản.

Mặc dù vậy, các biện pháp kiểm soát dịch bệnh của Chile có thể khiến cho mức độ tổn thất sản lượng đồng do Covid-19 cao hơn nhiều so với những con số trên khi mà số ca nhiễm virus corona ở khu vực này đang tăng nhanh.

Hãng Codelco thông báo việc tạm dừng hoạt động của Chuquicamata chỉ là "tạm thời", ngụ ý hoạt động sẽ nhanh chóng bình thường trở lại. Tuy nhiên, không phải Codelco mà là virus SARS-CoV-2 mới có thể xác định thời gian đóng cửa của Chuquicamata sẽ kéo dài trong bao lâu.

JP Morgan lưu ý rằng: "Hiện vẫn còn hơi sớm để có thể tin tưởng rằng sẽ không xảy ra làn sóng Covid-19 thứ 2, nhất là trong bối cảnh tỷ lệ lây nhiễm ở Mỹ Latinh nói chung và Chile nói riêng hiện vẫn tương đối cao".

Và điều quan trọng là để kiểm soát được dịch Covid-19 sẽ còn mất rất nhiều thời gian. Do đó, sẽ chưa thể đánh giá đúng tác động của dịch bệnh đối với nguồn cung kim loại ở thời điểm này.

Nguồn: CafeF

Author Name

Contact Form

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.