Bài đăng mới nhất

Trước sự ảnh hưởng của dịch covid-19, theo TBKTSG số 13/2020 (ngày 26/30/2020, trang 11) thì sự gia tăng của cầu ngoại tệ ở thời điểm hiện tại có thể được giải thích bởi một số nguyên nhân sau:

  1. Thứ nhất, trên thị trường chứng khoán, khối ngoại liên tục bán ròng cổ phiếu và chuyển đổi đồng nội tệ ra USD.
  2. Thứ hai, lãi suất tiền đồng giảm mạnh sau khi NHNN hạ hàng loạt lãi suất điều hành chủ chốt và thanh khoản dồi dào của ngân hàng đã phần nào kích thích doanh ngoại hối của tổ chức tín dụng. Những ngân hàng nào bán ngoại tệ (short) thì đã mua lại (cover). Điều này thúc đẩy cầu ngoại tệ ngắn hạn.
  3. Thứ ba, tâm lý đóng vai trò quan trọng trong biến động tỷ giá. Sự lo lắng dịch Covid-19 làm giảm tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng xuất khẩu và sản xuất trong nước... đã khiến người dân, nhà đầu tư hướng đến các kênh an toàn hơn như vàng, ngoại tệ.

Sự gia tăng cầu ngoại tệ, một phần đến từ sự bán ròng của nhà đầu tư ngoại trên TTCK

Một bài phân tích hay của TS. Hồ Quốc Tuấn chia sẻ trên TBKTSG số 13/2020 (ra ngày 26/03/2020, trang 20-21). Theo đó, bạn nên chọn kênh đầu tư nào mà bạn hiểu nhất. Đừng nên nhảy vào một kênh đầu tư chỉ vì tài sản đó đã giảm nhiều và cho rằng nó sẽ tăng nhanh trở lại. Một cổ phiếu rớt 50% vẫn có thể rớt thêm 50% nữa. Bài học "bắt dao rơi" điển hình là khi chỉ số VN-Index giảm từ 900 về 500 điểm trong năm 2008 và mấy tháng sau nó chỉ còn xung quanh 300 điểm. 

Ngoài ra, tác giả còn khuyến cáo nên quan tâm đến rủi ro khủng hoảng nợ (vỡ nợ) khi mà các hãng hàng không, dịch vụ lữ hành, vui chơi, mua sắm, giải trí đóng băng trên phạm vi toàn cầu do chiến lược hạn chế tiếp xúc xã hội. Hoặc mạnh tay hơn, khi các nước này hủy bỏ lễ hội, đóng cửa biên giới, yêu cầu người dân chỉ ra đường khi thật cần thiết, cả nền kinh tế của họ đều đóng băng (dù ở cấp độ khác nhau). Lúc này lĩnh vực sản xuất cũng bị ảnh hưởng... vốn vay nợ lớn, tăng rủi ro vỡ nợ.

Bạn nên chọn kênh đầu tư nào mà bạn hiểu nhất. Đừng nên nhảy vào một kênh đầu tư chỉ vì tài sản đó đã giảm nhiều và cho rằng nó sẽ tăng nhanh trở lại. Một cổ phiếu rớt 50% vẫn có thể rớt thêm 50% nữa.

Đây là cơ hội 10 năm có 1, nhưng nếu không kiên nhẫn, bạn có thể vẫn mua tài sản với giá cao. Gom tài sản giá rẻ cũng phải gom từ từ cũng như trữ hàng hóa mùa dịch vậy. Đây là một cuộc chơi cần lòng kiên nhẫn và chế ngự lòng tham cũng như nỗi sợ mất cơ hội.

Bên dưới mình sưu tầm một số bài viết hay về tỷ giá trong giai đoạn dịch Covid-19 của TBKTSG số 13/2020 lưu lại kiến thức sử dụng sau này.

1. Tỷ giá biến động trong nguồn cơn khủng hoảng

Nhu cầu nắm giữ đô la Mỹ tăng vọt, do tâm lý khủng hoảng tác động lên hành vi của nhà đầu tư, đẩy giá đô lên cao và phủ bóng đen lên mọi loại tài sản khác.

2. Dè chừng với cú sốc tỷ giá

Khi nhu cầu tiền mặt tăng cao, nhà đầu tư sẽ lựa chọn nắm giữ đô la Mỹ, vốn luôn được xem là đồng tiền an toàn số 1 trong những lúc rủi ro nhất với niềm tin lâu đời rằng nếu nền kinh tế thế giới sụp đổ thì cõ lẽ nền kinh tế số 1 thế giới này sẽ sụp đổ sau cùng. Thực tế thấy rằng, cuộc khủng hoảng 2008 - 2009, chính đồng đô la Mỹ chứ không phải vàng mới là tài sản tăng mạnh nhất (30% so với 6% ở đỉnh điểm).

3. Thận trọng trong điều hành tỷ giá

Ở khía cạnh tích cực thì tiền đồng giảm giá sẽ có lợi cho xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay thì sự cạnh tranh về giá có tác dụng rất hạn chế trong việc bán thêm được hàng ở các thị trường xuất khẩu chủ lực như Châu Âu, Mỹ vốn đang đóng cửa nhiều hoạt động kinh tế để kiểm soát dịch. Thậm chí, nếu để tiền đồng mất giá quá mạnh, Việt Nam sẽ đối mặt với rủi ro bị Mỹ đưa vào danh sách thao túng tiền tệ.

Nếu theo lý thuyết thị trường hiệu quả thì chúng ta không thể dự báo được giá chứng khoán, bởi tại một thời điểm giá chứng khoán đã phản ánh đầy đủ thông tin tại thời điểm đó. Tuy nhiên, nếu chúng ta tin rằng giá chứng khoán phụ thuộc hoặc được xây dựng dựa trên kì vọng của các nhà đầu tư thì chúng ta có thể đi sâu tìm hiểu hành vi của các nhà đầu tư trên thị trường. Khi đó, việc biết lí do vì sao nên bán một chứng khoán đã được phân tích có lẽ không còn quan trọng bằng việc tìm hiểu lí do tại sao các nhà đầu tư khác lại cũng muốn bán chúng. Ẩn số lớn nhất trong giá chứng khoán chính là phần thặng dư hay chiết khấu mà mỗi nhà đầu tư cộng hoặc trừ vào giá của chúng. Thông thường, các nhà đầu tư có chung kì vọng về mức sinh lời của một chứng khoán mà bản thân họ đôi khi không lý giải được.

Phân tích kỹ thuật là kỹ thuật phân tích các dữ liệu quá khứ của chứng khoán để đưa ra các dự báo cho tương lai. Kỹ thuật phân tích này dựa các kinh nghiệm rằng "tương lai chỉ là sự lặp lại của quá khứ bằng một con đường khác" (Authur Wing Pinero, 1893).

Giữa phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản thì kỹ thuật nào quan trọng hơn? Ở đây, không có một sự so sánh, lựa chọn tốt nhất và luôn đúng giữa hai kỹ thuật này. Bởi mỗi loại phân tích luôn có những ưu/nhược điểm, mỗi vùng sống riêng. Phân tích kỹ thuật cũng không phải hoàn hảo, nó chỉ là công cụ hỗ trợ quan trọng cho các nhà đầu tư trong bối cảnh lượng thông tin hoặc tin đồn tràn ngập như hiện này.

Một số thuật ngữ cơ bản khi bước đầu làm quen với phân tích kỹ thuật:

  • Giá chứng khoán: thể hiện sử đồng thuận của người mua (kì vọng giá tăng) và người bán (kì vọng giá giảm). Sự thay đổi giá chứng khoán cho biết sự thay đổi trong kì vọng của nhà đầu tư về giá trong tương lai.
  • Ngưỡng hỗ trợ: là mức giá mà tại đó đa phần nhà đầu tư cho rằng giá sẽ không xuống thấp hơn. Ngược lại với ngưỡng hỗ trợ là ngưỡng kháng cự. Ngưỡng kháng cự cho biết mức giá sẽ không lên cao hơn được theo cảm nhận của đa số các nhà đầu tư.
  • Xu hướng giá: cho biết hướng của sự thay đổi giá trong một gia đoạn nhất định. Xu hướng khác với ngưỡng hỗ trợ/kháng cự ở chổ xu hướng cho biết hướng của sự thay đổi còn ngưỡng hỗ trợ/kháng cự cho biết các rào cản đối với sự thay đổi.



Đầu tư thụ động thông qua các quỹ đầu tư vào chỉ số (ETF - Exchange Trade Fund) là xu hướng đầu tư phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam trong thời gian qua, thu hút sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Lý giải cho việc này, giám đốc khối phân tích khách hàng cá nhân CTCK HSC (trích trong NCĐT số 654 ra ngày14/10/2019, trang 18-19) đưa ra 3 luận điểm chính:
  1. EFT có chi phí rẻ hơn rất nhiều so với các quỹ đầu tư chủ động
  2. Các quỹ đầu tư chủ động bị hoài nghi về khả năng đánh bại thị trường
  3. Danh mục của ETF mô phỏng chỉ số và được đa dạng hóa tốt hơn, mức độ biến động thấp hơn khi thị trường biến động lớn.

Kỳ vọng nâng hạn, chỉ số mới và các sản phẩm chứng quyền là động lực tăng tưởng của nhóm cổ phiếu trụ trong VN30 trong tương lai.

Sự xuất hiện của các quỹ ETF dẫn đến việc dòng tiền bị phân hóa mạnh. Trong thời gian qua, dòng tiền có xu hướng tập trung vào các cổ phiếu lớn đặc biệt là các cổ phiếu trong nhóm VN30 (thể hiện qua thanh khoản và diễn biến giá của nhóm cổ phiếu này). Chỉ số VNMidcap và VNSmallcap diễn biến tệ hơn so với VN30. Nguyên nhân cho việc này có thể là:
  1. Kỳ vọng nâng hạn (nếu xảy ra) thì nhóm cổ phiếu được lợi sẽ là các cổ phiếu trụ
  2. Sản phẩm chứng quyền chỉ dành cho các cổ phiếu cơ sở nằm trong nhóm VN30
  3. Kì vọng triển khai các chỉ số mới như VX50, VN100 hoặc ETF cho nhóm cổ phiếu hết room và nhóm tài chính.


Author Name

Contact Form

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.